vanban.org

Bản án 153/2018/HC-PT — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/01/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Thị H - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 33/NQ-CP Về việc thành lập thành phố Đông Hà t…; Điều 17 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
Bản án số: 153/2018/HC-PT
Ngày: 30/01/2018
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính và yêu cầu bồi thường thiệt hại

về tài sản

!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lê Hồng Phượng.

Các"Thẩm"phán:"

1. Ông Vũ Bảo Nguyên.

2. Ông Nguyễn Hữu Thơ.

"

- Thư ký phiên tòa:"Bà Lê Ngọc Tú Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Tôn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24, 25 và 30 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ

lý số 69/2017/TLPT-HC ngày 02 tháng 11 năm 2017 về việc “Khiếu kiện

quyết định hành chính và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.

Do Bản án hành chính số 06/2017/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của

Tòa án nhân dân huyện H1 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3189/2017/QĐ-PT ngày 26

tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

1."Người"khởi"kiện: Bà Lê!Thị!H, sinh năm 1977.

Cư trú: x đường số 4, khu phố 8, phường y, quận z, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ!Đình!M, sinh năm 1981. (có

mặt)

Cư trú: Khu dân cư thương mại a, khu phố 3, phường b, thị xã c, tỉnh

Bình Dương.

Theo văn bản ủy quyền lập ngày 17/11/2016 của bà Lê Thị H.

2."Người"bị"kiện: Chủ!tịch!Ủy!ban!nhân!dân!xã!T.

Địa chỉ: Hương lộ d, ấp Dân Thắng 2, xã e, huyện f, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn!Thành!L, sinh năm 1970.

(có mặt)

Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T.

Địa chỉ: Hương lộ d, ấp Dân Thắng 2, xã e, huyện f, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Theo văn bản ủy quyền số: 55/QĐ-UBND ngày 15/02/2017 của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân xã T.

3."Người"kháng"cáo: Bà Lê Thị H - người khởi kiện.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Tại đơn khởi kiện ngày 17/11/2016, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai,

biên bản đối thoại và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là ông Vũ Đình M trình bày:

Vào tháng 01/2015, bà Lê Thị H có nhận chuyển nhượng phần đất nông

nghiệp có diện tích 1.800m2, thuộc một phần thửa đất số 38, tờ bản đồ số 56, tọa lạc tại xã T, huyện H1 của ông Trần Văn D, chưa hoàn tất thủ tục công chứng, sang tên, nhưng ông Dấp đã giao phần đất này cho bà H quản lý, sử dụng. Tháng 02/2015, bà H có dựng tạm 01 chuồng trại diện tích 90m2 để chăn nuôi gia súc và 01 nhà tranh diện tích 40m2 để bảo quản thức ăn chăn nuôi cũng như làm chỗ nghỉ ngơi cho người trông giữ.

Ngày 24/6/2016 và ngày 28/6/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T đã

ban hành Quyết định hành chính số 136/QĐ-UBND về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Quyết định hành chính số 144/QĐ-UBND về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị.

Bà H cho rằng căn cứ vào các quy định của Luật Xây dựng, các Nghị

định, Thông tư hướng dẫn thi hành và theo Khoản 7 Điều 3 của Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định chi tiết một số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, việc bà H xây dựng chuồng trại không xin giấy phép xây dựng đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện H1 tuyên hủy Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T do ban hành trái pháp luật. Buộc Ủy ban nhân dân xã T phải bồi thường thiệt hại cho bà Lê Thị H với tổng số tiền là 655.000.000 đồng, trong đó: bồi thường thiệt hại về chuồng trại chăn nuôi 233.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại về gia

súc, gia cầm 412.000.000 đồng và tiền thiệt hại về cây cối, hoa màu là

5.000.000 đồng theo Bản thống kê tài sản thiệt hại ngày 17/02/2017.

Tại bản tự khai, biên bản đối thoại và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại

diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Nguyễn Thành L trình bày:

Ngày 17/3/2016, trong quá trình kiểm tra phát hiện tại tổ 81, ấp Tân

Lập, xã T có 01 công trình vi phạm trật tự xây dựng, Ủy ban nhân dân xã T đã

tiến hành lập biên bản vắng chủ và niêm yết tại địa điểm vi phạm.

Ngày 23/6/2016, Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành lập biên bản ngừng

thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị số 04/BB-UBND

đối với công trình vi phạm.

Ngày 24/6/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành Quyết định số

136/QĐ-UBND về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự

xây dựng đô thị.

Ngày 28/6/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành Quyết định số

144/QĐ-UBND về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng

đô thị.

Các ngày 27/10/2016 và ngày 07/11/2016, Ủy ban nhân dân xã T ban

hành các Thông báo số 1620/TB-UBND và 1677/TB-UBND về việc thông báo

thời gian tổ chức cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm. Ngày 10/11/2016, Ủy

ban nhân dân xã T đã tiến hành tổ chức cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm

theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy

chứng nhận H00686/PB do Ủy ban nhân dân huyện H1 cấp ngày 14/4/2008 cho

ông Trần Văn D, phần đất có mục đích sử dụng là “lúa nước còn lại”, không

phải là đất nông nghiệp khác, thuộc quy hoạch xây dựng đô thị theo Quyết định

số 5074/QĐ-UBND ngày 16/9/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh về duyệt đồ án quy hoạch phân khu tỉ lệ 1/2000 khu dân cư đô thị Tân

Thới Nhì, xã T, huyện H1 (quy hoạch sử dụng đất - kiến trúc - giao thông) và

thuộc quy hoạch điểm dân cư nông thôn (quy hoạch xã nông thôn mới) theo

Quyết định số 4092/QĐ-UBND ngày 23/5/2014 của Ủy ban nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt đề án quy hoạch nông thôn mới xã T tỉ lệ

1/2000, 1/5000 - huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh (phần quy hoạch xây

dựng và quy hoạch sản xuất). Do đó, căn cứ vào Quyết định số 27/2014/QĐ-

UBND ngày 04/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định

chi tiết một số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ

Chí Minh, công trình xây dựng nêu trên thuộc trường hợp phải xin giấy phép

xây dựng.

Quá trình cưỡng chế, Ủy ban nhân dân xã có lập biên bản ghi nhận việc

cưỡng chế. Do việc cưỡng chế là cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự

xây dựng đô thị, không phải cưỡng chế kê biên tài sản để đảm bảo thực hiện

Quyết định hành chính nên đoàn công tác không thực hiện việc thống kê số lượng, chủng loại tài sản. Ngoài việc tháo dỡ công trình vi phạm, đoàn công tác không làm ảnh hưởng đến tài sản, gia súc, gia cầm, cây cối và tài sản khác tại khu đất, không thu giữ lại bất cứ tài sản nào tại khu vực cưỡng chế. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2017/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm

2017, Tòa án nhân dân huyện H1 tuyên xử:

Không chấp nhận nội dung khởi kiện của bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án

hủy Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016, Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1 và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/9/2017, đại diện người khởi kiện bà Lê Thị H kháng cáo toàn bộ

bản án sơ thẩm, cho rằng bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà H là chưa đúng, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, hủy các Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người khởi kiện bà Lê Thị H có ông Vũ Đình M là người đại diện hợp

pháp vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đồng thời, bổ sung yêu cầu hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2017/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H1 vì cấp sơ thẩm tiến hành các trình tự tố tụng chưa đúng. Cụ thể:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1 không thông báo cho bà H là

chủ đầu tư công trình xây dựng; không thống kê danh mục tài sản hiện có trên công trình xây dựng và gửi cho chủ đầu tư; tiến hành cưỡng chế không đúng giờ; cả hai Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1 đều căn cứ vào Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ để ban hành là không đúng vì văn bản này không còn hiệu lực.

- Cấp sơ thẩm không cho công bố băng ghi hình buổi cưỡng chế; không

tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ; không xác minh tài sản; không đối chất giữa người làm chứng, người liên quan và không tống đạt bản án cho đương sự.

Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T có ông Nguyễn Thành L

là người đại diện hợp pháp đề nghị bác kháng cáo của bà Lê Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu

ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm: Từ khi

thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, Thẩm phán Thư ký Tòa án đã thực

hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính. Tại phiên tòa phúc thẩm cho

đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự

thủ tục theo quy định của Luật tố tụng hành chính; các đương sự trong vụ án đã

chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H:

Về nội dung: Công trình xây dựng của bà Lê Thị H thuộc trường hợp

phải xin giấy phép xây dựng theo quy định tại điểm k Khoản 2 Điều 89 Luật

Xây dựng 2014.

Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành Quyết định số 136/QĐ-

UBND ngày 24/6/2016 và Quyết định 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 là đúng

quy định tại Khoản 1 Điều 17, điểm a Khoản 1 Điều 12, Khoản 3 Điều 23,

Khoản 1 Điều 24 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính

phủ.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do cưỡng chế, tại biên bản số 05/BB-

UBND ngày 10/11/2016 về việc tổ chức thực hiện Quyết định cưỡng chế số

144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 có nội dung trước khi tiến hành cưỡng chế

tháo dỡ, đoàn công tác ghi nhận tại công trình vi phạm không có gia súc, gia

cầm. Ngày 12/8/2017, đại diện Ủy ban nhân dân xã T có làm việc với ông

Nguyễn Hoàng M, địa chỉ 2/1560 ấp Tân Lập, xã T xác nhận về tài sản trên

công trình vi phạm, theo đó xác minh vật nuôi chỉ có 07 con bò, ông Minh giữ

giùm, sau khi cưỡng chế xong đã trả lại cho bà H, không có vật nuôi khác. Về

cây trồng, chỉ 02 cây sơ ri, 01 cây chanh, 01 cây ớt nhưng không có thiệt hại.

Do đó không có cơ sở cho rằng đoàn công tác cưỡng chế gây thiệt hại cho bà

Lê Thị H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H không cung cấp được chứng cứ có

thiệt hại xảy ra. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 78 Luật Tố tụng hành chính về

nghĩa vụ chứng minh của người khởi kiện, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu

của bà H.

Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người khởi kiện có bổ sung

yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, xét thấy yêu cầu này không có cơ sở, do đó đề

nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê

Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết

quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của

pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện làm

trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Về nội dung kháng cáo: đại diện người khởi kiện bà Lê Thị H cho

rằng bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà H là chưa đúng, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, hủy các Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm bổ sung yêu cầu hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2017/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H1 vì cấp sơ thẩm tiến hành các trình tự tố tụng chưa đúng.

Về yêu cầu kháng cáo của bà H:

[2.1] Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày

24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị. Căn cứ Điều 17 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1 ban hành các Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị là đúng thẩm quyền.

![2.2] Về trình tự, thủ tục lập biên bản và thời hạn ban hành Quyết định

số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị. Ngày 17/3/2016, Ủy ban nhân dân xã T tiến hành lập biên bản vắng chủ và niêm yết tại địa điểm vi phạm. Đến ngày 23/6/2016, xét thấy công trình vi phạm chưa được tháo dỡ mà còn có hành vi xây dựng thêm nhưng không có chủ đầu tư nên ngày 23/6/2016, Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành lập biên bản ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị số 04/BB-UBND đối với công trình vi phạm vắng chủ đầu tư. Ngày 24/6/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1 ban hành Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị đối với công trình vắng chủ đầu tư là đúng theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ."

[2.3] Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày

28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị. Do công trình vi phạm chưa được tháo dỡ và không tự giác chấp hành nên ngày 28/6/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện H1 ban hành Quyết định cưỡng chế số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 là phù hợp trình tự thủ tục quy định tại Điều 4, Điều 24 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007.

[2.4] Về nội dung Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016.

Nguồn gốc phần đất tồn tại công trình xây dựng vi phạm có diện tích

1.800m2, thuộc một phần thửa đất số 38, tờ bản đồ số 56, tọa lạc tại xã T, huyện

H1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 237198, số vào sổ cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất H 00686/PB do Ủy ban nhân dân huyện H1 cấp

ngày 14/4/2008 cho ông Trần Văn D và đã bị thu hồi theo Quyết định số 2947

ngày 30/5/2016 của Ủy ban nhân dân huyện H1. Ngày 14/10/2016 bà H nhận

chuyển nhượng của ông Trần Văn D có lập vi bằng ngày 14/10/2016, việc

chuyển nhượng chưa hoàn tất thủ tục công chứng, sang tên do ông Dấp đang

xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét việc xây dựng công trình vi phạm của bà H: Ngày 24/6/2016, bà H

có đến Ủy ban nhân xã T tự nhận là chủ đầu tư công trình xây dựng nêu trên và

ngày 01/7/2016 bà H làm đơn xin cứu xét về gia hạn thời gian tháo dỡ chuồng

trại chăn nuôi gia súc. Bà H cho rằng việc xây dựng chuồng trại không có giấy

phép xây dựng trên phần đất bà có quyền khai thác, sử dụng là đúng mục đích

sử dụng, đúng quy định tại Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND

ngày 04/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định chi tiết

một số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí

Minh.

Căn cứ vào Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND ngày

04/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định chi tiết một

số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,

căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 237198, số vào sổ cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất H 00686/PB do Ủy ban nhân dân huyện H1 cấp

ngày 14/4/2008 cho ông Trần Văn D, xác định được phần đất bà H đã nhận

chuyển nhượng có mục đích sử dụng là “đất trồng lúa nước còn lại - LUK”;

Căn cứ Quyết định số 5074/QĐ-UBND ngày 16/9/2014 của Ủy ban nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh về duyệt đồ án quy hoạch phân khu tỉ lệ 1/2000 khu

dân cư đô thị Tân Thới Nhì, xã T, huyện H1 (quy hoạch sử dụng đất - kiến trúc

- giao thông) và Quyết định số 4092/QĐ-UBND ngày 23/5/2014 của Ủy ban

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt đề án quy hoạch nông

thôn mới xã T tỉ lệ 1/2000, 1/5000 - huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh (phần

quy hoạch xây dựng và quy hoạch sản xuất), đất tại địa bàn xã T, huyện H1

thuộc quy hoạch xây dựng đô thị và thuộc quy hoạch điểm dân cư nông thôn

(quy hoạch xã nông thôn mới); Căn cứ vào điểm k Khoản 2 Điều 89 Luật Xây

dựng năm 2014 quy định trường hợp được miễn cấp phép xây dựng. Do công

trình xây dựng vi phạm trên không thuộc trường hợp được miễn giấy phép xây

dựng nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T đã ban hành Quyết định số 136/QĐ-

UBND ngày 24/6/2016 về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm

trật tự xây dựng đô thị là có căn cứ pháp luật.

Sau khi hết thời hạn thi hành Quyết định đình chỉ thi công công trình vi

phạm trật tự xây dựng đô thị nhưng chủ đầu tư vẫn vắng mặt, không chấp hành,

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T tiếp tục ban hành Quyết định số 144/QĐ-

UBND ngày 28/6/2016 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự

xây dựng đô thị là đúng quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên xét thấy Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày

24/6/2016 và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T đã được ban hành đúng quy định pháp luật

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của người khởi kiện: Do bà H đã có

hành vi thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ, nên công trình vi phạm là chuồng trại và nhà chứa thức ăn buộc phải đình chỉ thi công xây dựng và cưỡng chế phá dỡ theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ.

Tại Biên bản số 05/BB-UBND ngày 10/11/2016 về việc tổ chức thực

hiện Quyết định cưỡng chế số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 có nội dung trước khi tiến hành cưỡng chế tháo dỡ, đoàn công tác ghi nhận tại công trình vi phạm không có gia súc, gia cầm.

Tại các Biên bản xác minh ngày 19/12/2016 và ngày 12/8/2017 của Ủy

ban nhân dân xã T về cây trồng và vật nuôi trên công trình vi phạm tại Tổ 81, ấp Tân Lập, xã T đã bị cưỡng chế ngày 10/11/2016 thể hiện nội dung xác nhận về tài sản trên công trình vi phạm như sau: có 07 con bò được ông Nguyễn Hoàng M giữ giùm và đã trả lại cho bà H, không có vật nuôi nào khác, về cây trồng chỉ có 02 cây sơ ri, 01 cây chanh, 01 cây ớt, không có xoài, nhưng không có thiệt hại, đồng thời tại Bản thống kê tài sản thiệt hại ngày 17/02/2017, bà Lê Thị H tự khai đã bán đi số bò nêu trên.

Trong quá trình giải quyết sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà

H cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh được tài sản bị thiệt hại cụ thể chủng loại, số lượng, giá trị theo quy định tại Khoản 1, Điều 78 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, do đó không có cơ sở cho rằng người tổ chức cưỡng chế gây thiệt hại cho bà H. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T thực hiện đúng trình tự cưỡng chế được quy định tại Điều 34 Mục 5, Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2003. Từ nhận định trên, yêu cầu bồi thường về tài sản của người khởi kiện là không có cơ sở, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện yêu

cầu Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề sau:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T căn cứ văn bản không còn hiệu lực là

Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ khi ban hành Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016. Căn cứ Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 09/5/2016 và Văn bản số 05/BXD-TTr ngày 12/8/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T căn cứ quy định tại Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ khi ban hành Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 là phù hợp quy định pháp luật.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T không thông báo cho chủ đầu tư - bà H,

tiến hành cưỡng chế không đúng giờ: Xét Nguồn gốc phần đất tồn tại công

trình xây dựng vi phạm có diện tích 1.800m2, thuộc một phần thửa đất số 38, tờ

bản đồ số 56, tọa lạc tại xã T, huyện H1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất số AK 237198, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

H00686/PB do Ủy ban nhân dân huyện H1 cấp ngày 14/4/2008 cho ông Trần

Văn D và đã bị thu hồi theo Quyết định số 2947 ngày 30/5/2016 của Ủy ban

nhân dân huyện H1. Phía bà H cũng không chứng minh được bà là chủ đầu tư

công trình vi phạm. Đồng thời theo đơn xin cứu xét ngày 01/7/2016 của bà H,

cho thấy bà H đã biết việc bị xử phạt và đã xin gia hạn thời gian tháo dỡ cũng

như cam kết sẽ tháo dỡ chuồng trại. Bà H đến Ủy ban nhân xã T sau ngày Chủ

tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành các Quyết định nêu trên. Do đó, việc

người bị kiện xác định đây là công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị vắng

chủ đầu tư, và tiến hành xử lý, cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm vắng chủ

đầu tư là đúng theo quy định tại Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007

của Chính phủ. Như vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành các Quyết

định đình chỉ thi công công trình xây dựng vi phạm số 136/QĐ-UBND và

Quyết định cưỡng chế số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 và niêm yết tại nơi vi

phạm là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện người bị kiện trình bày do Ủy ban nhân

dân xã T nhiều lần vận động tự nguyện tháo dỡ và có thông báo thời gian tổ chức

cưỡng chế bằng việc niêm yết tại địa điểm vi phạm do công trình vắng chủ đầu

tư. Thời gian theo thông báo cưỡng chế vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/11/2016

nhưng tại công trình vi phạm bị khóa cửa, chủ đầu tư và người trông giữ đều

vắng mặt, không hợp tác, đến 14 giờ cùng ngày, người trông giữ tại công trình vi

phạm mở cửa, đoàn công tác thực hiện được cưỡng chế phá dỡ.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T không thống kê danh mục tài sản hiện

có trên công trình xây dựng và gửi cho chủ đầu tư. Xét tại biên bản số 05/BB-

UBND ngày 10/11/2016 về việc tổ chức thực hiện Quyết định cưỡng chế số

144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 có nội dung trước khi tiến hành cưỡng chế

tháo dỡ, đoàn công tác ghi nhận tại công trình vi phạm không có gia súc, gia

cầm. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T không thống kê danh mục tài sản

hiện có trên công trình xây dựng và gửi cho chủ đầu tư bà H là đúng quy định

pháp luật.

- Cấp sơ thẩm không cho công bố băng ghi hình buổi cưỡng chế: Xét

thấy tại hồ sơ vụ án có các biên bản giao nhận chứng cứ không thể hiện Tòa án

cấp sơ thẩm nhận được băng ghi hình buổi cưỡng chế nên cấp sơ thẩm không

cho công bố băng ghi hình buổi cưỡng chế là đúng quy định pháp luật tố tụng.

- Cấp sơ thẩm không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ; không xác minh

tài sản; không đối chất giữa người làm chứng, người liên quan: Xét thấy ngoài

Bản thống kê tài sản thiệt hại ngày 17/02/2017, bà H cũng không cung cấp được

tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh có thiệt hại về tài sản. Tại cấp sơ thẩm,

phía đại diện người khởi kiện không có yêu cầu đối chất và cũng không trình bày

được đối chất về vấn đề gì, do đó cấp sơ thẩm không cần thiết phải tiến hành đối

chất. Về yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và xác minh tài sản, do bà H không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh có thiệt hại về tài sản, đồng thời sau khi cưỡng chế hiện trạng vi phạm không còn như ban đầu do đó việc xem xét, thẩm định tại chỗ và xác minh tài sản là không cần thiết.

- Cấp sơ thẩm không tống đạt bản án cho đương sự: Tại cấp phúc thẩm,

đại diện người khởi kiện ông M trình bày không có ý kiến gì và cũng tại hồ sơ vụ án đã có bút ký, ông M đã ký nhận và đã thực hiện quyền kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác đơn khởi kiện của bà H là có

căn cứ, kháng cáo của bà H đề nghị tuyên hủy Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 và Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 28/6/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, yêu cầu bồi thường thiệt hại và sửa bản án sơ thẩm là không có cơ sở. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người khởi kiện có bổ sung yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này không có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bà H và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên đương sự

kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì"các"lẽ"trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án 2009;

1. Bác kháng cáo của của bà Lê Thị H.

Giữ nguyên các Quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số

06/2017/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H1.

2. Về án phí:

Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai

trăm ngàn đồng). Án phí dân sự có giá ngạch: Bà Lê Thị H phải chịu 30.200.000 đồng (ba mươi triệu hai trăm ngàn đồng). Ngày 29/11/2016, bà Lê Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 15.300.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai số 0029757 và 0029756 ngày 29/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H1. Bà Lê Thị H còn phải nộp số tiền 15.100.000 đồng (mười lăm triệu một trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba

trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số

0032651 ngày 03/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H1. Bà H đã

nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ