vanban.org

Bản án 152/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vũ Minh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh H phạm tội trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2026/HS-ST
Ngày 19-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Vương Thị Khánh Loan

2/ Ông Trần Văn Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2026/HSST ngày 06/02/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2026/QĐXXST-HS ngày 25/02/2026 đối với bị cáo:

Vũ Minh H (tên gọi khác: không), sinh năm 1983 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã P, tỉnh Đồng Nai (đã xóa khẩu năm 2005); Nơi ở hiện tại: khu phố 3, phường T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng H1 (đã chết) và bà Phan Thị N, sinh năm 1962; gia đình có hai anh em, bị cáo là con lớn; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 16/12/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (hiện nay chưa đóng án phí và chưa nộp tiền phạt vào ngân sách nhà nước).

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/10/2025, sau đó chuyển tạm giam tới nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1997. Nghề nghiệp: buôn bán.

Địa chỉ: khu phố 7, phường T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/10/2025, Vũ Minh H đi bộ đến khu vực nhà thi đấu tỉnh Đồng Nai thuộc khu phố 2, phường T, tỉnh Đồng Nai thì gặp “Đ” (không rõ lai lịch) nên H rủ “Đ” cùng đi trộm cắp tài sản thì “Đ” đồng ý. “Đ” điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirus (không rõ biển số) chở theo H đi xung quanh khu vực phường T, tỉnh Đồng Nai tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến trước nhà số 1346, khu phố 7, phường T, tỉnh Đồng Nai thì “Đ” thấy một xe bán cà phê đặt ở phía trước nhà, không có người trông coi và trên xe có để 01 (một) máy pha cà phê hiệu Corrima 3200B của anh Nguyễn Duy T (sinh năm 1997). Lúc này, “Đ” dừng xe ở vỉa hè để H cảnh giới còn “Đ” đi vào lấy trộm nhưng do máy pha cà phê nặng nên “Đ” đi ra, ngồi lên xe để cảnh giới và nói H đi vào lấy trộm. H đi đến, dùng hai tay khiêng máy pha cà phê ra ngoài rồi ngồi lên phía sau xe để “Đ” điều khiển xe tẩu thoát. Sau đó, “Đ” điều khiển xe đến cửa hàng mua bán phế liệu tại số 2, khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Nai của chị Nguyễn Thị H để tiêu thụ tài sản. Tại đây, “Đ” và H bán máy pha cà phê hiệu Corrima 3200B cho chị H với giá 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng). Sau đó, H và “Đ” sử dụng 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để ăn uống, còn lại 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) thì “Đ” giữ và tiêu xài hết.

Đến ngày 24/10/2025, H đã đến Công an phường T để đầu thú và bị tạm giữ để xử lý theo quy định.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) máy pha cà phê Corrima 3200B: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu hồi và trả lại cho anh Nguyễn Duy T.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 29/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường T kết luận: “01 (một) máy pha cà phê Corrima 3200B trị giá 12.325.000 đồng (mười hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng)”.

Tại Cáo trạng số 248/CT-VKS-HS ngày 03/02/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Vũ Minh H về tội danh, điều luật áp dụng nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của bị hại anh Nguyễn Duy T tại phiên tòa. Anh Tiên đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đồng thời đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tiên đã có đơn trình bày rõ yêu cầu của mình ở giai đoạn điều tra, do đó Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Theo như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Minh H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/10/2025, Vũ Minh H cùng với “Đ” thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) máy pha cà phê hiệu Corrima 3200B trị giá 12.325.000 đồng (mười hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Duy T tại trước nhà số 1346, đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 7, phường T, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 24/10/2025, H đã đến Công an phường T đầu thú và bị tạm giữ để điều tra, xử lý.

Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Vũ Minh H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số 248/CT-VKSBH ngày 03/02/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Vũ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý khi chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về vật chứng vụ án:

01 (một) máy pha cà phê Corrima 3200B: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu hồi và trả lại cho anh Nguyễn Duy T là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

Về các vấn đề khác trong vụ án.

Đối với đối tượng tên “Đ” (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng với Vũ Minh H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục xác minh và xử lí sau là phù hợp.

Đối với chị Nguyễn Thị H mua máy pha cà phê hiệu Corrima 3200B nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, chị H đã tự nguyện giao nộp lại máy pha cà phê cho cơ quan công an và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai không xử lý hình sự là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận, về mức hình phạt là không phù hợp nên không chấp nhận.

Đối với phần trình bày của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt. Đã được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vũ Minh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với Bản án:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Cỡ chữ