vanban.org

Bản án 152/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Tô Văn V 03(ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/10/2024. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị Cáo Tô Văn V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
———————
Bản án số: 152/2025/HS - ST
Ngày: 06/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn và bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Tô Văn V, sinh năm 1998 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: 64 đường N, KDC Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; con ông Tô Văn N, sinh năm 1978 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1980; bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là thứ 1; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo ra đầu thú bị tạm giữ bắt tạm giam ngày 02/10/2024, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1981; thường trú: Số I khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt

2. Chị Nguyễn Mộng L, sinh năm 1981; thường trú: Số D khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1.Chị Nguyễn Thị Kiều L1, sinh năm 1979; địa chỉ: Số C khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 1997 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.

Người chứng kiến: 1. Chị Lê Thị Hồng G; 2. Chị Nguyễn Thị Thu H (tất cả vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 25/10/2022, anh Hoàng Minh T, chị Nguyễn Mộng L, chị Lê Thị Hồng G và chị Nguyễn Thị Thu H đến Quán “Hai Lúa” địa chỉ: Số C đường Ố, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương do chị Nguyễn Thị Kiều L1 làm chủ để uống bia thì gặp Kim S (không rõ nhân thân quen biết xã hội với Nguyễn Thị Kiều L1) nên chị L rủ S uống bia cùng với nhóm. Lúc này, bị cáo Tô Văn V và N1 (bạn gái V không rõ nhân thân) cùng Nguyễn Bá T1, Phan Hữu V1 và bạn gái Văn tên là Đ (chưa rõ nhân thân) và Đ1 (chưa rõ nhân thân) cũng đang ngồi uống bia bàn bên cạnh.

Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 26/10/2022, Đ1 quay qua nhìn chị S nói “tối nay muốn ngủ với chủ quán 01 đêm”, biết Đ1 nhỏ tuổi nhưng nói chuyện không tế nhị nên chị L nói “ngủ gì mà ngủ”, cùng lúc này, chị L nghe điện thoại và chửi tục, V tưởng chị L chửi nhóm của V nên V cầm ly bia thủy tinh đi đến chỗ chị L đang ngồi hỏi “mày gọi ai” rồi dùng ly bia đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào trán trái chị L gây thương tích. Chị G (hay còn gọi là T2), chị Thu H và chị S can ngăn, anh T đứng lên can ngăn thì Đ1 và V lao đến đánh anh T nên anh T cầm nồi lẩu trên bàn chống trả. Thấy vậy, V1 lao vào hỗ trợ Đ1 và V dùng ly bia đánh anh T trúng vùng đầu, bàn tay phải gây thương tích. Cùng lúc này, T1 thấy V1, V và Đ1 đánh anh T nên T1 cầm ly bia thủy tinh đi đến chỗ anh T hỗ trợ Đ1, V1 và V đánh anh T và chị L. T1 dùng ly bia thủy tinh ném trúng người anh T (T1 không nhớ trúng vị trí nào trên người anh T), anh T gục ngã xuống đất và dùng 02 tay ôm đầu, Đ1 tiếp tục dùng tay trái giữ đầu anh T, tay phải cầm ly bia thủy tinh đánh vào vùng sườn trái anh T nhiều cái. Chị L do bị đánh trúng vào đầu nên choáng voáng đứng gần đó thì V cầm ly bia thủy tinh xông đến đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào vùng chẩm đầu sau bên trái chị L gây thương tích. Đồng thời dùng chân trái đạp 01 cái vào bụng chị L thì được chị T2 đứng cạnh đó can ngăn. Vĩ tiếp tục lấy 02 ly bia thủy tinh (tại bàn chị L) cầm trên 02 tay lao đến dùng tay phải đánh 01 cái từ trên xuống vào vùng đầu chị L, chị L giơ tay lên đỡ nên không trúng, V bỏ đi ra ngoài. Lúc này, Đ1 dùng tay, chân đánh anh T khi đang nằm dưới đất một lúc thì không đánh nữa. Chị L và chị T2 đi lại chỗ anh T thì bị Đ1 lấy nồi (loại hấp nghêu) bằng sành màu đen ném về phía chị L và chị T2 nhưng không trúng và chạy đến dùng tay phải đấm vào mặt chị L 01 cái và lấy vỏ chai bia Sài gòn đỏ đánh trúng vào vai chị L 01 cái thì được V1 và V can ngăn. Đen tiếp tục dùng chân phải đạp vào người anh T 01 cái rồi cả nhóm bỏ đi. Do bị gây thương tích nên chị L và Anh T được chị H và chị T2 đưa đến Bệnh viện Đ2, thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu.

Ngày 04/7/2023, anh Hoàng Minh T và chị Nguyễn Mộng L có đơn trình báo và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cũng như giám định thương tích.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 500/2023/KLGĐ-TTPY ngày 29/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B, đối với thương tích anh Hoàng Minh T:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương trán trái 9,7 x 0,3cm, sẹo lành. Nứt sọ xoang trán trái, đã được điều trị nội khoa; Vết thương đỉnh trán 2,1 x 0,3cm, vết thương thái dương-đỉnh trái 1 x 0,5cm, vết thương vùng chẩm 1,3 x 0,2cm, sẹo lành; Vết thương mu bàn tay phải 3 x 0,3cm, sẹo lành; Sây sát da cẳng chân, bàn tay phải, đã lành.

2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Minh T tại thời điểm giám định 14% phần trăm.

3. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương trán trái, nứt sọ xoang trán trái, vết thương đỉnh trán, vết thương thái dương - đỉnh trái, vết thương vùng chẩm, vết thương mu bàn tay phải; Các vết sẹo có bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Xây sát da cẳng chân, bàn tay phải đã lành hiện không còn dấu tích, nên không xác định được cơ chế hình thành thương tích.

Tại công văn 179/CV-TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định: Bệnh nhân Hoàng Minh T nhập viện ngày 26/10/2022 trong tình trạng như sau: Bệnh tỉnh, Glasgow 15 điểm, niêm hồng, tiếp xúc tốt; mạch 90 lần/phút, huyết áp 120/70 mmHg, nhịp thở 20 lần/phút; Vết thương trán 10cm, vết thương đỉnh trán 2cm, vết thương đỉnh trái 2cm, vết thương chẩm 2cm, vết thương mu bàn tay phải 4cm. CT scan: Gãy thành xoang trán trái. Điều trị: Nội khoa, khâu vết thương, kháng sinh, giảm đau.

Như vậy, theo ghi nhận của bệnh viện, thương tích của bệnh nhân T tương đối nhẹ, không có biểu hiện nguy kịch, không mất máu nhiều, không có chỉ định phẫu thuật cấp cứu, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, sinh hiệu ổn định.

Do đó, cho phép nhận định: Trường hợp thương tích của bị hại Hoàng Minh T nếu không điều trị cấp cứu kịp thời, khả năng cũng không dẫn đến tử vong.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 508/2023/KLGĐ-TTPY ngày 29/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B, đối với thương tích chị Nguyễn Mộng L, như sau: Vết thương trán trái 2,8 x 0,2cm, vết thương vùng chẩm trái 2,5 x 0,2cm, sẹo lành.

2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Mộng L tại thời điểm giám định là 02% phần trăm.

3. Kết luận khác (nếu có): Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương trán trái, vết thương vùng chẩm trái: Sẹo bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

Tại công văn 178/CV-TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định: Bệnh nhân Nguyễn Mộng L nhập viện ngày 26/10/2022 trong tình trạng như sau: Bệnh tỉnh, Glasgow 15 điểm, niêm hồng, tiếp xúc tốt; Mạch 90 lần/phút, huyết áp 120/80 mmHg, nhịp thở 20 lần/phút; Vết thương trán 4cm, vết thương sau đầu 5cm; CT scan: Không phát hiện bất thường nhu mô não.

+ Điều trị: Khâu vết thương.

Như vậy, theo ghi nhận của Bệnh viện, thương tích của bệnh nhân L là các vết thương da nhẹ, không có biểu hiện nguy kịch, không mất máu nhiều, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, sinh hiệu ổn định.

Do đó, cho phép nhận định: Trường hợp thương tích của bị hại Nguyễn Mộng L nếu không điều trị cấp cứu kịp thời, khả năng cũng không dẫn đến tử vong.

Bản án hình sự sơ thẩm số 225/2024/HS-ST ngày 5/8/2024. Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã xét xét xử đối với Nguyễn Bá T1 cũng như giải quyết về việc bồi thường cho các bị hại.

Đối với Phan Hữu V1 và tên Đ1 (không rõ nhân thân) bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát Công an thành phố D (nay là tỉnh Bình Dương) đã ra Quyết định truy tìm để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Bản Cáo trạng số 114/CT-VKS- DA ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tô Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tô Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt đồng thời lời nói sau cùng bị cáo hối hận việc mình làm, xin được giảm nhẹ hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D (nay là Công an tỉnh B), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định bị cáo Tô Văn V phạm tội: Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 26/10/2022, tại Quán “H" địa chỉ Số C, đường Ố, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vì nghi ngờ chị Nguyễn Mộng L chửi nhóm của mình nên Tô Văn V đã cùng với Nguyễn Bá T1, Phan Hữu V1, Đ1 (không rõ nhân thân) dùng ly thủy tỉnh, chai bia thuỷ tinh, nồi bằng sành đánh vào vùng đầu, bàn tay phải, sườn trái của bị hại Hoàng Minh T, Nguyễn Mộng Lam làm anh T thương tích 14%, chị L thương tích 02%. Hành vi trên của bị cáo V là hành vi của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với hai tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 134 là “dùng hung khí nguy hiểm”, “có tính chất côn đồ”. Bản cáo trạng số 114/CT– VKS-DA ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo V là có căn cứ pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 6 năm tù. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại L, T được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong vụ án này bị cáo V là người khởi xướng trong việc đánh chị L, dẫn đến T1, Phan Hữu V1 và Đ1 (không rõ nhân thân) tham gia đánh và gây thương tích chị L, anh T. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo V với mức án nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện không có tiền án, tiền sự.

Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng không phải là phạm tội có tổ chức do không có sự bàn bạc phân công, bị cáo V cùng các đồng phạm tham gia với vai trò thực hành, nhất thời phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp.

Trong vụ án còn có Nguyễn Bá T1 đã được TAND thành phố Dĩ An xét xử bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 225/2024/HS-ST ngày 5/8/2024 cũng như giải quyết về trách nhiệm dân sự. Đối với Phan Hữu V1 và tên Đ1 (không rõ nhân thân) bỏ trốn. Cơ quan CSĐT Công an thành phố D (nay là tỉnh Bình Dương) đã ra Quyết định truy tìm để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét

Xét đề nghị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và mức hình phạt là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10 ] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Tô Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Văn V 03(ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/10/2024.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

Bị cáo Tô Văn V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ