- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2023/HS-ST Ngày 31-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm.
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2023/HSST ngày 18 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Văn T, sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Ấp PB, xã SĐ, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Nhà trọ ĐT, đường NB, Khu phố X3, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M, sinh năm 1968 (đã chết) và bà Đỗ Thanh H, sinh năm 1968; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án: Ngày 02/3/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 23/9/2015. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 23/5/2016, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm số tiền 425.000 đồng ngày 24/10/2022; tiền sự: Không; Ngày 24/02/2023, bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Tô A M, sinh năm 1965; địa chỉ thường trú: Khu phố X3, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Văn C, sinh năm 1978; địa chỉ thường trú: Khu phố X3, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn T là đối tượng có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2016. Khoảng năm 2017, T đến ở trọ tại phòng trọ số 6, nhà trọ ĐT thuộc Khu phố X3, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để đi làm công nhân.
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 19/10/2022, T đi bộ từ phòng trọ đi đến tiệm tạp hóa gần đó mua card điện thoại. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi về ngang qua tiệm tạp hóa của bà Tô A M thuộc Khu phố X3, phường MP, thì thấy tiệm tạp hóa không có người trông coi. Lúc này, T nảy sinh ý định đi vào bên trong tiệm lấy trộm tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài nên T lén lút đi vào lục tìm lấy được 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh để trên tủ nhựa phòng ngủ rồi đi về phòng trọ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T đem điện thoại lấy trộm được đến Tiệm cầm đồ HĐ do ông Lê Văn C cạnh đường 2/9, Khu phố X3, phường MP cầm cho ông C được 1.500.000 đồng.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bà M phát hiện mất điện thoại nên xem lại camera gắn trong nhà mình thì thấy người lấy trộm giống Phan Văn T nên trình báo Công an phường MP. Lực lượng Công an phường MP mời T làm việc thì T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh của Lê Văn C;
- Số tiền 1.500.000 đồng của Phan Văn T.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận định giá tài sản số 134 ngày 21/10/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh, đã qua sử dụng trị giá 1.330.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Ngày 24/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh cho bà Tô A M và số tiền 1.500.000 đồng cho ông Lê Văn C.
Tại Cáo trạng số: 167/CT-VKS ngày 18/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số: 167/CT-VKS ngày 18/7/2023.
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát theo Cáo trạng số: 167/CT-VKS ngày 18/7/2023 đối với bị cáo Phan Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 19/10/2022, tại Khu phố X3, phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bị cáo T đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích mà tiếp tục có hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại bà Tô A M lén lút lấy trộm điện thoại di động trị giá 1.330.000 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 167/CT-VKS ngày 18/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất: Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại đã lén lút chiếm đoạt là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi, giao trả cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu từng bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” vào năm 2016. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 23/5/2016, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm số tiền 425.000 đồng ngày 24/10/2022. Bị cáo chưa được xoá án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên với lần phạm tội này cần phải xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Ngày 24/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh cho bà Tô A M và số tiền 1.500.000 đồng cho ông Lê Văn C là phù hợp. Bà M và ông C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - UBND phường MP, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |