- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-5-2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Bà Nguyễn Kim Lên
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXX-ST ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tú A, sinh năm 1981. (Xin V)
Địa chỉ: Khóm B, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Ông La Vũ L, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2023, bà Trần Thị Tú A trình bày:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L kết hôn năm 2003, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn, do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc nên đã ly thân khoảng 13 năm. Nay bà Trần Thị Tú A yêu cầu xin ly hôn với ông La Vũ L.
Về con chung: Có 02 con chung, cháu La Thị Nhật T, sinh ngày 04/4/2003, cháu La Trần Mạch K, sinh ngày 25/02/2010, hiện các cháu đang sống cùng bà Trần Thị Tú A. Bà Trần Thị Tú A yêu cầu nuôi La Trần Mạch K, không yêu cầu ông La Vũ L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 03/4/2023, bà Trần Thị Tú A nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà Trần Thị Tú A.
Đối với ông La Vũ L, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông La Vũ L đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tú A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L là tranh chấp về ly hôn, nuôi con bị đơn là ông La Vũ L có nơi cư trú tại huyện T nên bà Trần Thị Tú A khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của ông La Vũ L, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông La Vũ L vẫn không có ý kiến phản hồi đồng thời cũng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông La Vũ L theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của bà Trần Thị Tú A, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Tú A theo quy định.
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2003, hôn nhân tự nguyên, không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống, bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, hôn nhân không hạnh phúc, thời gian ly thân đã lâu. Nay bà Trần Thị Tú A có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân. Mặt khác, hôn nhân giữa bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L có vi phạm về mặt hình thức do đó không được công nhận là vợ, chồng.
Về con chung: Cháu La Thị Nhật T, sinh ngày 04/4/2003, đã thành niên; cháu La Trần Mạch K, hiện đang sống cùng bà Trần Thị Tú A. Bà Trần Thị Tú A yêu cầu nuôi La Trần Mạch K. Đồng thời tại biên bản ghi ý kiến ngày 03/4/2023, cháu L1 Trần Mạch K cũng có nguyện vọng được chung sống cùng bà Trần Thị Tú A. Do đó, giao cháu L1 Trần Mạch K cho bà Trần Thị Tú A nuôi dạy là phù hợp.
Bà Trần Thị Tú A không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không buộc trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con đối với ông La Vũ L.
Về tài sản: Không có nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 9, 14, 15 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Tú A và ông La Vũ L.
2. Về con chung: Cháu La Thị Nhật T, sinh ngày 04/4/2003, đã thành niên; giao cháu La Trần Mạch K, sinh ngày 25/02/2010 cho bà Trần Thị Tú A nuôi dạy. Ông La Vũ L không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông La Vũ L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, bà Trần Thị Tú A phải chịu 300.000 đồng. Ngày 03 tháng 3 năm 2023, bà Trần Thị Tú A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006275 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà Trần Thị Tú A, ông La Vũ L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - CC.THADS huyện Trần Văn Thời; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |