vanban.org

Bản án 152/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.

Ông Nguyễn Xuân H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm của bà Nguyễn Thị Thùy T, ông Nguyễn Xuân H được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 152/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 6 - 2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Liêm;

2. Bà Phan Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 209/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 387/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1997; địa chỉ: số 591, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: tổ 4, ấp 4, xã M, huyện C, tỉnh Đ; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1990; địa chỉ: số 591, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày, do quen biết, bà T và ông H kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vào ngày 01/3/2016. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/8/2016. Hiện tại, con chung đang được bà T nuôi dưỡng. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm hay cự cãi nhau, ông H không chăm lo kinh tế gia đình và có người phụ nữ khác, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2023 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 01/3/2016 do Ủy ban nhân dân xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Nguyễn Xuân H; giấy khai sinh số 307 ngày 06/9/2016 do Ủy ban nhân dân xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Xuân P (bản sao).

- Bị đơn ông Nguyễn Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà T và ông H kết hôn, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo làm ăn, không lo kinh tế gia đình, có người phụ nữ khác và không còn sống chung từ đầu năm 2023 nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông H. Bà T, ông H không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung nên không giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H; bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Xuân H. Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị Thùy T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Xuân H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà T và ông H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã do ông H không lo làm ăn, không lo kinh tế gia đình, có người phụ nữ khác và không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà T và ông H thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông H nhưng ông H không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T, ông H là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/8/2016. Xét thấy, con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, cháu Phúc còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết. [2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy T. 1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Nguyễn Xuân H. Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 01/3/2016 do Ủy ban nhân dân xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Nguyễn Xuân H không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy T được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/8/2016. Ông Nguyễn Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Bà Nguyễn Thị Thùy T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Xuân H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. 4. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013441 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 05 tháng 4 năm 2023; bà Nguyễn Thị Thùy T đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Xuân H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm của bà Nguyễn Thị Thùy T, ông Nguyễn Xuân H được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Chợ Mới (2);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh An Giang (1);

- Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1);

- UBND xã Hội An (1);

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ (1);

- Lưu văn phòng (1).

Nguyễn Thị Diễm Thúy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Thúy

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ