- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn chị Trương Thị Hồng D với bị đơn ông Lê Văn L, bà Trần Thị C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hồng D. Buộc bà Trần Thị Ch và ông Lê Văn L phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hụi còn nợ cho chị Diễm bằng 14.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2023/DSST Ngày: 18/7/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Việt Quân
2. Bà Đinh Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoàng Danh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: thụ lý số 329/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2023/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 180/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng D, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Ấp Ngãi H, xã Tập N, huyện Tiểu C, tỉnh T (vắng mặt có lý do)
- Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm: 1973 (vắng mặt không có lý do)
Bà Trần Thị Ch, sinh năm: 1972 (vắng mặt không có lý do)
Cùng địa chỉ: Ấp Ngãi H, xã Tập N, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trƣơng Thị Hồng D trình bày:
Chị có tham gia chơi hụi do ông Lê Văn L và bà Trần Thị Ch làm đầu thảo loại hụi 5.000.000 đồng 03 tháng khui một lần có 26 hụi viên, khui ngày 15/9/2018 âm lịch chị tham gia 01 phần hụi khui được 11 lần đến lần khui thứ 12 thì đầu thảo úp hụi cụ thể số tiền hụi mà chị đã đóng:
Lần 1 là 2.800.000 đồng; Lần 2 là 2.650.000 đồng; Lần 3 là 2.400.000 đồng; Lần 4 là 2.280.000 đồng; Lần 5 là 2.200.000 đồng; Lần 6 là 2.080.000 đồng; Lần 7 là 1.990.000 đồng; Lần 8 là 1.500.000 đồng; Lần 9 là 1.220.000 đồng; Lần 10 là 1.000.000 đồng; Lần 11 hụi viên kêu 5.500.000 đồng nên chị không có đóng hụi. Tổng số tiền vốn chị đóng cho đầu thảo là 20.210.000 đồng, tuy nhiên phía chị Ch cho rằng số tiền hụi sống chị đóng vào là 20.100.000 đồng thì chị cũng đồng ý. Sau khi úp hụi thì đầu thảo có trả cho chị được 5.500.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện và phiên hòa giải ngày 22/02/2023 chị yêu cầu ông Lê Văn L và bà Trần Thị Ch phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị số tiền hụi là 55.000.000 đồng. Nay chị yêu cầu bà Ch và ông L phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hụi 14.600.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi. Đối với yêu cầu của bà Ch yêu cầu cấn trừ vào số tiền hụi 10 lần bằng 10.000.000 đồng trong dây hụi 1.000.000 đồng mà chị tham gia do bà Ch làm đầu thảo thì chị không đồng ý, vì dây hụi này bà Ch đã úp hụi, nếu bà Ch đồng ý cấn trừ số tiền hụi sống mà các hụi viên đóng vào là 10 lần x 380.000 đồng = 3.800.000 đồng thì chị đồng ý.
Tại bản tự khai ngày 22/3/2023 và quá trình tố tụng bị đơn chị Trần Thị Ch trình bày: Chị có làm đầu thảo hụi loại hụi 5.000.000 đồng 03 tháng khui một lần có 26 hụi viên, khui ngày 15/9/2018 âm lịch chị Diễm tham gia 01 phần chị Diễm đóng hụi sống được 10 lần với số tiền 20.100.000 đồng. Đến lần khui thứ 12 thì úp hụi, sau khi úp hụi chị có trả cho chị Diễm số tiền là 5.500.000 đồng. Ngoài ra chị Diễm có tham gia góp hụi loại hụi 1.000.000 đồng do chị làm đầu thảo và chị Diễm có còn nợ tiền hụi chết của chị 10 lần là 10.000.000 đồng nên chị còn nợ lại chị Diễm 4.620.000 đồng.
Việc chị Diễm khởi kiện kể cả ông L thì chị không đồng ý, mặc dù vợ chồng sống chung với nhau nhưng khi chị làm hụi ông L không biết và cũng không cùng chị tính toán tiền hụi.
Bị đơn ông Lê Văn L vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử nên không có lời trình bày
Ý kiến trình bày của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử
Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227 ; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 27 và 37 luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 468 và Điều 471 bộ luật dân sự;
Áp dụng nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hồng D. Buộc bà Trần Thị Ch và ông Lê Văn L phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền hụi cho chị Diễm số tiền bằng 14.600.000 đồng của dây hụi khui ngày 15/9/2018 âm lịch loại hụi 5.000.000 đồng 3 tháng khui một lần có 26 hụi viên cùng tham gia.
Về lãi suất: do chị Diễm không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết
Về án phí: Đề nghị Tòa án xử lý theo quy định của pháp luật
Các tài liệu chứng cứ tình tiết của vụ án:
Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Danh sách hụi
Tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp: Bản tự khai
Tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản ghi lời khai của bị đơn
Những tình tiết các đƣơng sự thống nhất:
Quá trình tố tụng bà Trần Thị Ch thừa nhận có làm đầu thảo hụi dây hụi khui ngày 15/9/2018 âm lịch loại hụi 5.000.000 đồng 3 tháng khui một lần có 26 hụi viên cùng tham gia trong đó có chị Trương Thị Hồng D tham gia 01 phần, chị Diễm có đóng hụi cho bà được 11 lần với số tiền là 20.100.000 đồng. Sau khi úp hụi bà có trả cho chị Diễm được 5.500.000 đồng.
Quá trình tố tụng chị Trương Thị Hồng D thừa nhận số tiền hụi đóng vào cho bà Ch 11 lần với tổng số tiền là 20.100.000 đồng và sau khi úp hụi thì bà Ch có trả cho chị được 5.500.000 đồng.
Những tình tiết các đƣơng sự không thống nhất:
Chị Trương Thị Hồng D yêu cầu anh Lê Văn L cùng với chị Trần Thị Ch có trách nhiệm hoàn trả số tiền nợ hụi bằng 14.600.000 đồng
Ông Lê Văn L vắng mặt không có lý do
Chị Trần Thị Ch yêu cầu cấn trừ số tiền 10.000.000 đồng mà chị Diễm còn nợ lại chị 10 lần của dây hụi 1.000.000 đồng. Chị Diễm không đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng góp hụi, nguyên đơn và bị đơn đều có nơi cư trú tại huyện Tiểu Cần. Căn cứ vào Điều 26; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Nguyên đơn chị Trương Thị Hồng D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Trần Thị Ch và ông Lê Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị TRương Thị Hồng D, ông Lê Văn L và bà Trần Thị Ch.
. Về nội dung vụ án: Quá trình tố tụng chị Diễm yêu cầu bà Ch và ông L phải có nghĩa vụ hoàn trả cho chị số tiền bằng 14.600.000 đồng của dây hụi khui ngày 15/9/2018 âm lịch loại hụi 5.000.000 đồng 3 tháng khui một lần có 26 hụi viên cùng tham gia do bà Trần Thị Ch và ông Lê Văn L làm đầu thảo. Quá trình tố tụng bà Ch thừa nhận có làm đầu thảo hụi dây hụi khui ngày 15/9/2018 âm lịch loại hụi 5.000.000 đồng 3 tháng khui một lần có 26 hụi viên cùng tham gia trong đó có chị Trương Thị Hồng D tham gia và có đóng hụi sống cho bà được 10 lần với tổng số tiền bằng 20.100.000 đồng, chị Diễm thừa nhận sau khi úp hụi bà Ch có trả cho chị được số tiền 5.500.000 đồng, vì vậy có cơ sở xác định số tiền hụi mà bà Ch và ông L còn nợ lại chị Diễm của dây hụi khui ngày 15/9/2018 âm lịch loại hụi 5.000.000 đồng 3 tháng khui một lần có 26 hụi viên cùng tham gia do chị Trần Thị Ch và ông Lê Văn L làm đầu thảo là 14.600.000 đồng.
Đối với lời trình bày của bà Ch cho rằng việc bà làm đầu thảo hụi ông Lê Văn L không biết, tuy nhiên giao dịch góp hụi giữa bà với chị Diễm được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân giữa bà với ông L nên buộc ông L cùng với bà có trách nhiệm hoàn trả số tiền nợ hụi cho chị Diễm là có cơ sở.
Đối với yêu cầu của chị Ch yêu cầu cấn trừ số tiền 10.000.000 đồng trong dây hụi 1.000.000 đồng mà chị Diễm còn nợ chị. Quá trình tố tụng chị Diễm không đồng ý cấn trừ số tiền này nên ngày 20/3/2023 Tòa án có ban hành thông báo về việc yêu cầu phản tố tuy nhiên hết thời hạn theo thông báo chị cũng không có đơn khởi kiện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét đối với yêu cầu này của chị.
Từ những nhận đinh trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hồng D , chấp nhận lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần.
. Về án phí: Do yêu cầu của chị Trương Thị Hồng D được chấp nhận nên chị Diễm không phải chịu án phí, chị Trần Thị Ch và ông Lê Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 468 và Điều 471 bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 27 và 37 luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hồng D. Buộc bà Trần Thị Ch và ông Lê Văn L phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hụi còn nợ cho chị Diễm bằng 14.600.000 đồng của dây hụi hụi khui ngày 15/9/2018 âm lịch loại hụi 5.000.000 đồng 3 tháng khui một lần có 26 hụi viên cùng tham gia do bà Trần Thị Ch làm đầu thảo
2. Kể từ ngày chị Trương Thị Hồng D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Trần Thị Ch và ông Lê Văn L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Buộc bàTrần Thị Ch và ông Lê Văn L phải chịu 730.000 đồng đồng. Chị Trương Thị Hồng D không phải chịu án phí hoàn trả cho chị Trương Thị Hồng D số tiền 1.375.000 đồng tại biên lai số 0014386 ngày 08/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
4. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Tiểu Cần; - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thạch Thị Thu Hiền |