- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Tạ Thị Xuân Bích - Ông Lê Phước Hồng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Tạ Thị Xuân B được ly hôn với ông Lê Phước H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2022. V/v: “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Xuân Tuất
2. Ông Phạm Văn Bằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 658/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc: “Ly hôn; Tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Xuân B, sinh năm 1988.
Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Lê Phước H, sinh năm 1995.
Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Tạ Thị Xuân B trình bày:
Bà và Ông Lê Phước H tự nguyện kết hôn, đã được Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện T (nay là huyện T), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 16/4/2003.
Sau khi kết hôn, bà và ông H có mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với Ông Lê Phước H.
- Về con chung: Có 03 con chung là cháu Lê Minh P, sinh ngày 24/4/2004, cháu Lê Minh H, sinh ngày 19/4/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 03/8/2009. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Minh H và cháu Lê Gia B. Tạm thời bà không yêu cầu ông Lê Phước H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Lê Minh P đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Lê Phƣớc H trình bày:
Ông và bà Tạ Thị Xuân B tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân xã Đ, huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết số 22 hôn ngày 16/4/2003. Nay bà B yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Lê Minh P, sinh ngày 24/4/2004, cháu Lê Minh H, sinh ngày 19/4/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 03/8/2009. Ông không đồng ý giao cháu Lê Minh H và cháu Lê Gia B cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vì các con ông không muốn cha mẹ ly hôn. Đối với cháu Lê Minh P đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Tạ Thị Xuân B. Cho bà B được ly hôn với ông Lê Phước H.
Về con chung: Bà B và ông H có 03 con chung là cháu Lê Minh P, sinh ngày 24/4/2004, cháu Lê Minh H, sinh ngày 19/4/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 03/8/2009. Giao cháu Lê Minh H và cháu Lê Gia B cho bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Lê Minh P đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Bà B, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Bà B, ông H khai không có.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc bà B phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tòa án bà B có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H đã được Tòa án tống đạt, miêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Xuân B và ông Lê Phước H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2003 và được Ủy ban nhân xã Đ, huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 16/4/2003 nên là hôn nhân hợp pháp.
Bà B xác định vợ chồng có mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, dẫn đến cãi vã xung đột không hòa giải được. Hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Bà B yêu cầu được ly hôn nhưng ông H không đồng ý. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ cho các bên nhưng bà B cương quyết ly hôn với ông H; ông H không đến Tòa án để tham gia hòa giải, thể hiện sự không tích cực phối hợp trong việc giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng. Điều này chứng tỏ, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà B được chấp nhận.
Về con chung: Bà B và ông H có 03 con chung cháu Lê Minh P, sinh ngày 24/4/2004, cháu Lê Minh H, sinh ngày 19/4/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 03/8/2009. Bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Minh H và cháu Lê Gia B. Đối với cháu Lê Minh P đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét về điều kiện nuôi con, cả bà B và ông H đều làm công việc tự do, có thu nhập ổn định và có đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên quá trình làm việc tại Tòa án cháu H và cháu B đều có nguyện vọng ở với bà B. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Lê Minh H, sinh ngày 19/4/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 03/8/2009 cho bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Đối với cháu Lê Minh P đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà B không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lê Phước H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà B, ông H không có yêu cầu nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà B, ông H khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Tạ Thị Xuân B được ly hôn với ông Lê Phước H.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Minh H, sinh ngày 19/4/2007 và cháu Lê Gia B, sinh ngày 03/8/2009 cho bà Tạ Thị Xuân B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Lê Phước H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lê Phước H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà B, ông H không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà B, ông H khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bà Tạ Thị Xuân B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp theo biên lai thu số 0001337 ngày 24/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà B đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Tạ Thị Xuân B, ông Lê Phước H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Trảng Bom; - THADS huyện Trảng Bom; - TAND tỉnh Đồng Nai; - UBND xã xã Đ, huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom), tỉnh Đồng Nai (Giấy CNKH số 22 ngày 16/4/2003); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tâm |