- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Ch- Kim Thị H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Ch và chị Kim Thị H (Kim Thị Phượng).
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15-8-2022 V/v: Ly hôn giữa anh Ch và chị H. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Lưu Văn Đê.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2022/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm Xuân Hòa Đông, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Chị Kim Thị H (tên gọi khác: Kim Thị Ph), sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm Xuân Hòa Đông, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Anh Ch vắng mặt có lý do; chị H vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 11 tháng 3 năm 2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Ch trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Ch và chị Kim Thị H (tức Kim Thị Phượng) đăng ký kết hôn ngày 23-11-2001 tại Ủy ban nhân dân xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc cùng gia đình anh Ch tại xóm Xuân Hòa Đông, xã Hải Hòa đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt cũng như trong làm ăn kinh tế nên tH xuyên cãi, chửi nhau. Chị H tự ý bỏ đi làm ăn xa, khi gia đình có việc trọng đại mới về nhưng không thông báo cho anh Ch. Mỗi lần về, chị H đều chủ động tránh mặt, không cho anh Ch tiếp xúc. Anh Ch và chị H đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ năm 2014 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, do chị H chủ động tránh mặt nên vợ chồng không có điều kiện giải quyết mâu thuẫn. Nay anh Ch xác định không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với chị H do tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị H.
Về con chung: Anh Ch, chị H có 02 con chung là Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 16/3/2002 và Nguyễn Văn Kiên (tên gọi khác: Nguyễn Văn Trưởng), sinh ngày 14/5/2003. Hiện nay, cả hai con chung đều đã thành niên, lao động tự lập được nên anh Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Anh Ch và chị H không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 6 năm 2022, chị Kim Thị H (Phượng) có lời khai phù hợp với lời khai của anh Ch về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời gian vợ chồng ly thân. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị H trình bày là do mỗi lần vợ chồng va chạm, anh Ch tH xuyên xúc phạm, thậm chí còn sử dụng vũ lực với chị H nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Mặc dù tình cảm không còn, vợ chồng thực tế đã ly thân một thời gian dài nhưng vì tôn giáo ràng buộc nên chị H không nhất trí ly hôn. Trường hợp anh Ch vẫn cương quyết xin ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Chị H cũng khẳng định: Từ khi trưởng thành đến nay, chị H chỉ đăng ký kết hôn 01 lần với anh Ch và ngược lại, anh Ch cũng chỉ đăng ký kết hôn với một người là chị H.
Về con chung, tài sản: Chị H công nhận vợ chồng có hai con chung, không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản như anh Ch trình bày. Tuy nhiên, quá trình chung sống, chị H có đóng góp công sức tôn tạo đối với tài sản gia đình mẹ đẻ anh Ch. Hiện tại, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung cũng như tài sản.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Ch và chị Kim Thị H; không giải quyết về con chung, tài sản do các đương sự đều không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Ch có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Kim Thị H vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Ch, chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn Ch và chị Kim Thị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 23-11-2001. Quá trình giải quyết vụ án, anh Ch, chị H đều xác định: Từ khi trưởng thành, anh Nguyễn Văn Ch chỉ đăng ký kết hôn với một người là chị Kim Thị H; chị H cũng chỉ đăng ký kết hôn 01 lần với anh Ch; việc đăng ký kết hôn là tự nguyện. Do Giấy chứng nhận kết hôn bản chính bị thất lạc nên trích lục kết hôn ngày 29 tháng 6 năm 2021 anh Ch nộp khi làm thủ tục ly hôn với chị H do UBND xã Hải Hòa cấp là căn cứ pháp lý khẳng định quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa anh Ch và chị H.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Ch và chị H đều thừa nhận: Trong suốt thời gian chung sống, do tính tình không hợp, quan điểm bất đồng nên vợ chồng tH xuyên mâu thuẫn; mỗi lần mâu thuẫn, anh Ch đã có những hành vi không đúng mực đối với chị H. Anh Ch, chị H đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ năm 2014 đến nay. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Ch và chị H là sự việc có thật. Mặc dù chị H không nhất trí ly hôn với anh Ch nhưng lý do không phải để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm mà chỉ bởi ràng buộc tôn giáo. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Ch và chị H đã trầm trọng, kéo dài; tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Ch, cho anh Ch được ly hôn chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Anh Ch, chị H có 02 con chung là Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 16/3/2002 và Nguyễn Văn Kiên (tên gọi khác: Nguyễn Văn Trưởng), sinh ngày 14/5/2003. Hiện nay cả hai con đã thành niên, lao động tự lập được, anh Ch, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản: Anh Ch, chị H không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Ch phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Ch và chị Kim Thị H (Kim Thị Phượng).
2. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Anh Nguyễn Văn Ch phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006209 ngày 10-6-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Anh Nguyễn Văn Ch đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Hải Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ + VP. HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Việt Hùng Lưu Văn Đê | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hoè |