- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Phan Phước T
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21-12-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Phú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân nhân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 413/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:199/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1990 “có mặt”.
Địa chỉ: ấp CĐ, xã TM, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Phan Phƣớc T, sinh năm 1991 “vắng mặt”.
Địa chỉ: ấp CĐ, xã TM, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 29 tháng 8 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh T thành hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TM, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 15/4/2016. Thời gian chung sống được 07 năm, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau này phát sinh mâu thuẫn do anh T không quan tâm đến vợ con mà còn quan hệ với người phụ nữ khác hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2020 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: có 01 con chung tên Phan Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 28/4/2016 hiện đang sống với anh T. Nay chị yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã triệu tập các đương sự tham gia phiên họp và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn không trình bày ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết và không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải với nguyên đơn nên không tiến hành hòa giải được giữa nguyên đơn và bị đơn. Đến khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập bị đơn đến tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu được ly với anh T, yêu cầu được nuôi con, bị đơn vắng mặt không lý do.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N về việc ly hôn với bị đơn anh Phan Phước T.
Về con chung: Giao con chung Phan Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 28/4/2016 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục nuôi. Anh Phan Phước T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: buộc chị Nguyễn Thị N nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Về quyền yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Trường hợp này là vụ án tranh chấp ly hôn và con chung do bị đơn anh Phan Phước T có địa chỉ tại ấp CĐ, xã TM, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn.
[ 1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Phan Phước T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Phan Phước T thành hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã TM, huyện Trà Ôn trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẩn do không hợp nhau nên nguyên và bị đơn đã ly thân từ tháng 7/2020 đến nay, thời gian ly thân không ai tạo điều kiện đoàn tụ. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu được ly hôn cùng bị đơn, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn đến tham gia phiên họp, hòa giải và xét xử nhiều lần nhưng bị đơn không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn cùng bị đơn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Phan Phước T có 01 con chung tên Phan Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 28/4/2016, hiện đang sống cùng anh T. Nay chị yêu cầu được nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ theo lời trình bày của chị N từ khi chị và anh T ly thân thì chị để cháu T lại cho anh T chăm sóc, tuy nhiên do anh T nay đi làm trên ở Long An nên không có thời giạn chăm sóc cho con, do đó nay chị N yêu cầu được nuôi cháu T, vì chị làm việc gần nhà, chị đủ điều kiện và thời gian chăm sóc giáo dục con. Mặt khác trong thời gian giải quyết vụ án anh T không có ý kiến hay văn bản nào trình bày nguyện vọng được nuôi con nên cầm tiếp tục giao cháu T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét về cấp dưỡng nuôi con đây là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Tuy nhiên chị N không yêu cầu gì đối với anh T về việc cấp dưỡng nuôi con, anh T không có ý kiến hay văn bản nào đề nghị được cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này chị N có yêu cầu thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[ 2.3] Về quan hệ tài sản: chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Phan Phước T không có văn bản trình bày ý kiến của mình nên Tòa án không có căn cứ xem xét giải quyết.
[ 2.4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát như nhận định trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án. Buộc chị N nộp 300.000đ
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Phan Phước T
2. Về con chung: Giao con chung Phan Nguyễn Nguyên T, sinh ngày 28/4/2016 cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng, anh Phan Phước T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết anh Phan Phước T không có văn bản yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình. Trừ vào số tiền 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0014840 ngày 10 tháng 10 năm 2022, chị N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị N biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh T vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Trà Ôn; - THADS huyện Trà Ôn; - UBND xã TM số 22 ngày 15/4/2016 - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Hoàng Phú |