vanban.org

Bản án 152/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Ngọc S - không phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 152/2021/HS-ST
Ngày: 28-9-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Đắc Toàn

2. Ông Nguyễn Đình Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2021/TLST-HS ngày 26/8/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2021/QĐXXST-HS ngày 17/9/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị Ngọc S, giới tính: Nữ, sinh năm 1960 tại TP. Q Nhơn, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ H, khu vực K, phường B, TP. Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh T (chết) và bà: Phan Thị H (chết); Chồng: Phan Minh T, sinh năm 1953, có 03 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1986; Tiền án: Không, Tiền sự: Ngày 08/6/2020 bị Công an phường Bùi Thị Xuân, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự tại trụ sở, cơ quan”; Bị bắt tạm giam từ ngày 23/6/2021 cho đến nay hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Quy Nhơn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. UBND phường Bùi Thị Xuân, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang T– Chủ tịch phường. Ông Thủy vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Chị Trần Thị P, sinh năm 1989. Chị P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Số nhà A đường C, phường N, TP. Q, Bình Định.

- Người tham gia tố tụng khác:

Ông Hồ Văn L, bà Nguyễn Thị Xuân S, ông Đoàn Văn H, ông Đặng Thế D, bà Huỳnh Thị Lê D, ông Trần Thanh V, bà Võ Thị Bích N, ông Trần Quốc D, ông Nguyễn Văn S, ông Hồ Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2019, Huỳnh Thị Ngọc S thực hiện việc mua bán đất với ông Hồ Văn L hai bên thỏa thuận việc mua bán đất bằng giấy viết tay không qua công chứng, chứng thực. Sau đó, S nộp đơn tại UBND phường Bùi Thị Xuân, khiếu nại yêu cầu UBND phường xác nhận nguồn gốc đất và ranh giới thửa đất 166, 167, 168 mà hai bên đã mua bán.

Quá trình giải quyết khiếu nại, vào ngày 09/4/2021 UBND phường Bùi Thị Xuân đã ban hành Quyết định số 91/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của Huỳnh Thị Ngọc S với nội dung không công nhận toàn bộ nội dung đơn khiếu nại. Sau khi nhận được quyết định nói trên, S không thống nhất với quyết định giải quyết khiếu nại của UBND phường. Mặc dù, UBND phường Bùi Thị Xuân đã nhiều lần phân tích, giải thích và hướng dẫn cho S thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hành chính tại Tòa án. Tuy nhiên, S không thực hiện, mà ngược lại rất nhiều lần đến UBND phường có những hành vi lớn tiếng chửi bới, dùng lời lẽ thô tục xúc phạm đến cán bộ, công chức UBND phường, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của UBND phường. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/4/2021, Huỳnh Thị Ngọc S cùng ông Hồ Văn L đến Trụ sở UBND phường Bùi Thị Xuân tìm ông Bùi Quang T– Chủ tịch UBND phường để yêu cầu giải quyết khiếu nại. Khi đến trước phòng làm việc của ông Bùi Quang T, thấy ông T đang ngồi làm việc với cán bộ phường nên S cùng ông L liên tục nói lớn tiếng, chửi bới. S đến trước cửa chỉ tay vào mặt ông T nói: “nắm cái đầu của nó đưa ra khỏi phường là ra chuyện liền”, còn ông L thì to tiếng chửi bới. Sau đó, cán bộ phường mời S, ông L qua phòng tiếp dân làm việc. Cả hai vừa đi, vừa la to tiếng chửi bới cho đến khi qua phòng tiếp dân. Khi vào phòng tiếp dân, S cùng ông L vẫn tiếp tục to tiếng, chửi bới thêm khoảng 10 phút, đến khi lực lượng Công an phường Bùi Thị Xuân yêu cầu về làm việc thì cả hai mới bỏ đi.

Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 11/5/2021, Huỳnh Thị Ngọc S và bà Nguyễn Thị Xuân S (vợ của ông L) cùng đến Trụ sở UBND Phường Bùi Thị Xuân để khiếu nại. Tại đây, Huỳnh Thị Ngọc S vào phòng làm việc của Chủ tịch UBND phường rồi lớn tiếng, chửi mắng cán bộ phường: “cán bộ ngu, cán bộ dốt” rồi cầm lấy 01 ly thủy tinh trên bàn định ném về phía ông Bùi Quang T– Chủ tịch UBND Phường Bùi Thị Xuân nhưng được mọi người can ngăn và mời qua phòng tiếp dân để làm việc. Tại đây, Huỳnh Thị Ngọc S tiếp tục la lối, chửi mắng cán bộ có mặt ở đây đến 16 giờ 45 phút cùng ngày mới ra về. Lúc này, bà Nguyễn Thị Xuân S có đi theo và chứng kiến sự việc.

Sau đó, vào các ngày 07/6/2021 và 11/6/2021, Huỳnh Thị Ngọc S tiếp tục đến Trụ sở UBND Phường Bùi Thị Xuân, có hành vi la hét, chửi bới ông Bùi Quang T- Chủ tịch UBND phường và cán bộ làm việc tại đây. Đặc biệt, ngày 11/6/2021, Huỳnh Thị Ngọc S còn có hành vi cầm dép đánh vào mặt chị Trần Thị P- là cán bộ địa chính của UBND Phường Bùi Thị Xuân.

Sự việc xảy ra, UBND phường Bùi Thị Xuân đã có các Văn bản số 80 ngày 23/4/2021; Văn bản số 101 ngày 18/5/2021 và 117 ngày 09/6/2021 gửi đến Chủ tịch UBND thành phố Quy Nhơn, Công an thành phố Quy Nhơn, báo cáo về hành vi của bà Huỳnh Thị Ngọc S gây mất an ninh, trật tự tại trụ sở UBND phường Bùi Thị Xuân.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ 01 (một) USB có đoạn video do camera ghi lại vụ việc xảy ra tại UBND phường Bùi Thị Xuân vào các ngày 19/4/2021, ngày 11/5/2021, ngày 07/6/2021 và ngày 11/6/2021.

- Tại bản cáo trạng số 148/CT-VKSQN ngày 25/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Cáo trạng.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Đại diện UBND phường Bùi Thị Xuân, TP. Quy Nhơn, bà Trần Thị P không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào năm 2019, bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S thực hiện việc mua bán đất với ông Hồ Văn L hai bên thỏa thuận việc mua bán đất bằng giấy viết tay không qua công chứng, chứng thực. Sau đó, bị cáo S nộp đơn tại UBND phường Bùi Thị Xuân khiếu nại yêu cầu UBND phường xác nhận nguồn gốc đất và ranh giới thửa đất mà hai bên đã mua bán. Vào ngày 09/4/2021 UBND phường Bùi Thị Xuân đã ban hành Quyết định số 91/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của Huỳnh Thị Ngọc S với nội dung không công nhận toàn bộ nội dung đơn khiếu nại của S. Lẽ ra, không đồng với với Quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân phường Bùi Thị Xuân, TP. Quy Nhơn, bị cáo S được quyền khiếu nại đến UBND thành phố Quy Nhơn hoặc Tòa án để giải quyết, bị cáo không làm việc đó mà các ngày 19/4/2021, ngày 11/5/2021, ngày 07/6/2021 và ngày 11/6/2021 bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S đến trụ sở Ủy ban nhân dân phường la hét, chửi bới cán bộ UBND phường gây ồn ào, mất trật tự, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của UBND phường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn.

Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết việc gây mất trật tự tại trụ sở, cơ quan Nhà nước là vi phạm pháp luật, nhưng do xem thường pháp luật bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ Luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S có nhân thân xấu, đã bị cơ quan hành chính Nhà nước xử phạt. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đến UBND phường Bùi Thị Xuân, TP. Quy Nhơn gây rối nhiều lần nên phạm tội với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Đại diện UBND phường Bùi Thị Xuân, TP. Quy Nhơn, bà Trần Thị P không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Gây rối trật tự công cộng” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vấn đề khác: Đối với ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị Xuân S cả hai không có bàn bạc, thỏa thuận gì với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S về việc đến UBND phường để gây rối trật tự công cộng nên không đồng phạm với bị cáo. Vào ngày 19/4/2021, ông L đã có hành vi la lối lớn tiếng cùng với Huỳnh Thị Ngọc S tại UBND phường Bùi Thị Xuân, nhưng đây là hành vi bộc phát, chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, bản thân ông L cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này và cũng chưa bị kết án về tội này nên cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn không xử lý hình sự đối với ông L là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2021.

2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ