vanban.org

Bản án 152/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN NGỌC H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 152/2019/HS-ST
Ngày 27-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngũ Minh Luận.

Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hiền là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 144/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thƣờng trú: ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Phòng số 8, nhà trọ số 8, Đƣờng D20, khu dân cƣ VS, khu phố 4, phƣờng A, thị xã A1, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Hồng Kim L; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 22/12/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng ban hành Quyết định số 200/2017/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị bắt, tạm giam từ ngày 04 tháng 01 năm 2019 cho đến nay, có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Đỗ Văn T và ông Nguyễn Văn C1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/01/2019, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã A1 và Công an phƣờng A đến trƣớc số nhà 34A-34B, Khu dân cƣ VS thuộc khu phố 4, phƣờng A, thị xã Á, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Nguyễn Ngọc H đang đứng trƣớc căn nhà trên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trƣớc bên trái của H có cất giấu 07 (bảy) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá (ký hiệu M1) của H nên lực lƣợng Công an tiến hành lập biên bản bắt quả tang. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại phòng số 8, nhà trọ số 8 Khu dân cƣ VS thuộc khu phố 4, phƣờng A, thị xã A1, Bình Dƣơng phát hiện trên gác của phòng trọ số 8 có: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) cân điện tử (tiểu ly) hiệu Amput; 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2-1); 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa 10 (mƣời) túi nylon miệng kéo dính loại nhỏ, trong mỗi túi nhỏ có chứa 01 (một) viên nén dạng tròn màu cam (ký hiệu M2-2) là của Nguyễn Ngọc H.

Ngày 04/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A1 ra Quyết định số 153 trƣng cầu giám định số lƣợng ma túy nói trên.

Ngày 13/01/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có kết luận giám định số 91/MT-PC09, kết luận:

- Mẫu gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng: 6,6666 gam (M1) loại Methamphetamine.

- Mẫu gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng: 0,0068 gam (M2-1), loại Methamphetamine.

- Mẫu gửi giám định có trọng lƣợng: 3,1498 gam (M2-2) không tìm thấy trong danh mục quản lý về các tiền chất và các chất ma túy.

Tổng trọng lƣợng ma túy bị cáo Nguyễn Ngọc H tàng trữ là 6,6734 gam (6,6666 gam + 0,0068 gam = 6, 6734 gam) loại Methamphetamine.

Nguyễn Ngọc H khai nhận: 07 (bảy) túi ma túy đá là do H mua của ngƣời thanh niên tên C1 (không rõ nhân thân, địa chỉ) ở khu vực phƣờng N, thành phố L, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 30/12/2018 với số tiền là 950.000 đồng rồi đem về chỗ ở H phân chia ra thành nhiều túi nhỏ để sử dụng dần. Nguồn gốc của 01 (một) túi ma túy đá thu giữ tại phòng trọ của H là do H chiết ra từ 07 túi ma túy đã mua ngày 30/12/2018 của ngƣời thanh niên tên C1; 10 viên nén dạng tròn màu cam là do ngƣời bạn ngoài xã hội tên T1 (không rõ nhân thân và địa chỉ) ngày 02/01/2019; 01 bộ dụng cụ sử dụng là do H tự chế ra để sử dụng ma túy; 01 cân điện tử (tiểu ly) hiệu Amput là của một ngƣời bạn ngoài xã hội cho H.

Đối với đối tƣợng tên C1 là ngƣời đã bán ma túy cho bị cáo H, do không rõ nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 157/CT-VKS-TA ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 05 (năm) đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thƣ niêm phong ký hiệu vụ số 91/PC09 (M1), vụ số 91/PC09 (M2); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) cân điện tử màu đen hiệu Amput.

Lời khai của ngƣời làm chứng Đỗ Văn T, Nguyễn Văn C1 đã trình bày trong quá trình điều tra và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc H đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 04/01/2019, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã A1 và Công an phƣờng A đến trƣớc số nhà 34A-34B, Khu dân cƣ VS thuộc khu phố 4, phƣờng A, thị xã A1, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành kiểm tra phát hiện túi quần phía trƣớc bên trái của bị cáo H có 07 gói nylon hàn kín có khối lƣợng là 6,6666 gam loại Methamphetamine và phát hiện tại phòng trọ của bị cáo H 01 túi nylon miệng hàn kín có khối lƣợng là 0,0068 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lƣợng 6,6734 gam loại Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nƣớc về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bản thân bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng phạt nhƣng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thƣ niêm phong ký hiệu vụ số 91/PC09 (M1), vụ số 91/PC09 (M2); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) cân điện tử màu đen hiệu Amput.

Đối với hành vi của ngƣời thanh niên tên Chí đã bán ma túy cho bị cáo Hồ, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân và địa chỉ. Do đó, khi nào xác minh sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thƣ niêm phong ký hiệu vụ số 91/PC09 (M1), vụ số 91/PC09 (M2); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) cân điện tử màu đen hiệu Amput.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 5 năm 2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).

3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ