- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị V xin ly hôn anh Trần Văn D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| . TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 152/2018/HNGĐ-ST Ngày 17 - 10 - 2018 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh
1. Bà Nguyễn Thị Nga
2. Ông Đỗ Văn Mạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 568/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2018/QĐXX-ST ngày 26 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 133/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị V, sinh năm 1988; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn An Nội, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 06/8/2018, và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị V (nguyên đơn) khai:
Về hôn nhân: Chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn số 62 ngày 30 tháng 7 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong lao động, chăm sóc con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn, chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ăn ở, vợ chồng hiện đã sống ly thân nhau. Nay chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn D.
Về con chung: Chị Bùi Thị V khai: Chị và anh Trần Văn D có 03 con chung là Trần Thị Minh T, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2007; Trần Trung K, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2011 và Trần Duy C, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2013. Hiện chị V đang nuôi cả 03 con. Trường hợp ly hôn, chị V có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vân khai chị và anh D tự thỏa thuận giao nhận cho nhau nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị V khai: Chị và anh Trần Văn D không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật song đến ngày mở phiên tòa, anh Trần Văn D vẫn không có mặt để trình bày ý kiến về việc chị V xin ly hôn.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D được ly hôn. Về con chung: Chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D có 03 con chung là Trần Thị Minh T, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2007; Trần Trung K, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2011 và Trần Duy C, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2013. Hiện chị V đang trực tiếp nuôi cả 03 con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Cháu Trần Thị Minh T và Trần Trung K đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Căn cứ tài liệu điều tra xác minh hiện trạng nuôi con, khả năng, điều kiện nuôi con của mỗi bên và căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Bùi Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Bùi Thị V phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị V và anh D.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D được xác lập năm 2007 là hợp pháp. Tài liệu điều tra thể hiện: Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, lao động và chăm sóc con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn, chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại thôn An Nội, xã A, huyện T từ năm 2016 đến nay. Chị V xin ly hôn anh D, Tòa án đã triệu tập anh D nhiều lần để trình bày ý kiến về việc chị V xin ly hôn nhưng anh anh D vẫn vắng mặt không có lý do Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh D đã. lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị V và anh D được ly hôn.
Về con chung: Chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D có 03 con chung là Trần Thị Minh T, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2007; Trần Trung K, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2011 và Trần Duy C, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2013. Hiện chị V đang nuôi cả 03 con. Khi ly hôn, chị V có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung. Tuy nhiên việc giao con chung cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, từ khi sống ly thân đến nay, chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Chị V có việc làm và thu nhập ổn định để thực hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Cháu Trần Thị Minh T và Trần Trung K đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, giao cho chị Bùi Thị V được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị V khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Bùi Thị V phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D.
2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con là Trần Thị Minh T, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2007; Trần Trung K, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2011 và Trần Duy C, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2013 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị V phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0009281 ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, chị Bùi Thị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày chị V, anh D nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợpBản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND thành phố Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thủy Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
- UBND xã A;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT, HCTP.
Lƣơng Ngọc Anh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Nga Đỗ Văn Mạnh
Lƣơng Ngọc Anh
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã Tam Hưng, H. Thủy Nguyên; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT, HCTP. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 3 năm 2018 Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đông 2. Ông Bùi Đức Khoa tháng 12 năm 2017 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” giữa: Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt. phiên tòa, các quy định của pháp luật. Điều 39; Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Kết quả biểu quyết: 3/3 - Về nội dung: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D. Nguyễn Quốc Hưng sinh ngày 16/4/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008567 ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, chị Bùi Thị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án giao cho hoặc được niêm yết. Kết quả biểu quyết: 3/3 Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 20 phút, ngày 06 tháng 3 năm 2018. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Đông Bùi Đức Khoa TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN THẢO LUẬN Vào hồi 09 giờ 40 phút, ngày 12 tháng 02 năm 2018 Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đông 2. Ông Bùi Đức Khoa tháng 12 năm 2017 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” giữa: Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Hưng, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt. phiên tòa, các quy định của pháp luật. - Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Biểu quyết: 3/3 - Về nội dung: Hoãn phiên tòa sân sự sơ thẩm nêu trên. Biểu quyết: 3/3 mở vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 06 tháng 03 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Tthành phố Hải Phòng. Kết quả biểu quyết: 3/3. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Đông Bùi Đức Khoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Anh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 830/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị V sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 3, xã Phả Lễ, huyện 2. Bị đơn: Anh Trần Văn D sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 3, thôn Du, xã Tam Hưng, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quá tranh tụng tại HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: - Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên 3. Về án phí: Chị Bùi Thị V phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Chị Bùi Thị V và anh Trần Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 830/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị V sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 3, xã Phả Lễ, huyện 2. Bị đơn: Anh Trần Văn D sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 3, thôn Du, xã Tam Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quá tranh tụng tại HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: Thời gian mở lại phiên toà được ấn định như sau: Phiên tòa dân sự sẽ được Biên bản thảo luận đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Anh |