vanban.org

Bản án 152/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa anh Lâm Minh T và chị Lê Tuyết N là vợ chồng.

Về nuôi con chung: 1. Giao hai con chung Lâm Ngọc M (nữ), sinh ngày 03/3/2001 và Lâm Ngọc H (nữ), sinh ngày 08/02/2008 cho anh Lâm Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lâm Minh T tranh chấp ly hôn chị Lê Tuyết N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa anh Lâm Minh T và chị Lê Tuyết N là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI,TỈNHCÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2018/HNGĐ-ST
Ngày 11 - 7 - 2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Hải Dương

Ông Nguyễn Ngọc Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 286/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lâm Minh T, sinh năm 1983 (có mặt)

- Bị đơn: Chị Lê Tuyết N, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp TT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn anh Lâm Minh T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Lâm Minh T và chị Lê Tuyết N kết hôn vào năm 2000, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị sống bên gia đình anh T tại ấp TT, xã TT, trong thời gian chung sống không hòa hợp nhau về tính cách nên đã ly thân khoảng 5 năm nay. Nay anh T yêu cầu ly hôn chị N.

- Về con chung: Có hai người con chung tên Lâm Ngọc M, sinh ngày 03/3/2001 và Lâm Ngọc H, sinh ngày 08/02/2008 hiện đang do anh T nuôi dưỡng. Khi ly hôn con có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Lê Tuyết N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị N xác định lời trình bày của anh T về thời gian tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian ly thân là đúng, nay chị N đồng ý ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị thống nhất với lời trình bày của anh T về con chung, Khi ly hôn nguyện vọng các con ở với ai người đó nuôi, cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay đi làm tại Sài Gòn không có điều kiện đến tòa án nên chị N xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Tuyết N có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N theo quy định.

Về hôn nhân: Anh Lâm Minh T và chị Lê Tuyết N kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, không đăng ký kết hôn. Anh T xin ly hôn được chị N đồng ý. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình của Quốc hội quy định “Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi …nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng…”. Do đó, khi xác lập mối quan hệ hôn nhân anh T và chị N không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Có hai người con chung tên Lâm Ngọc M, sinh ngày 03/3/2001 và Lâm Ngọc H, sinh ngày 08/02/2008 hiện đang do anh T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy tại “Biên bản V/v ghi ý kiến của con chung” ngày 25/6/2018 và ngày 11/7/2018 cháu Ngọc M và Ngọc H đều có nguyện vọng xin được ở với cha là Lâm Minh T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T giao hai cháu Ngọc M và Ngọc H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng: Anh T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ người khác và người khác nợ lại: Anh T và chị N xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, các Điều 15, 53, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa anh Lâm Minh T và chị Lê Tuyết N là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao hai con chung Lâm Ngọc M (nữ), sinh ngày 03/3/2001 và Lâm Ngọc H (nữ), sinh ngày 08/02/2008 cho anh Lâm Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Chị Lê Tuyết N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Lâm Minh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), ngày 14 tháng 6 năm 2018 đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0010044 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được chuyển thu.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ