vanban.org

Bản án 1517/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phước M.

Về hôn nhân: Ông Lê Phước M ly hôn bà Lê Thị G. Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 26/3/2021 hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Lê Phước M ly hôn với bà Lê Thị G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phước M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1517/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Sơn Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Sơn

2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 29/9/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 266/2022/TLST-HNGĐ ngày 22/02/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 446/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/8/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 528/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Phước M, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. (Có mặt)

Bị đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1983. Địa chỉ: Nhà không số, Tổ 4, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 08/02/2022, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Phước M trình bày:

Ông M và bà Lê Thị G có quá trình tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 26/3/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 03 năm, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông M yêu cầu ly hôn bà G.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc H, sinh ngày 08/02/2021, ông M giao con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, ông M không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Lê Thị G vắng mặt từ khi vụ án được thụ lý; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải cho đến phiên tòa mà không có lý do. Do đó, Toà án đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ đơn khởi kiện của ông Lê Phước M yêu cầu ly hôn đối với bà Lê Thị G, đây là tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, thuộc trường hợp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà G cư trú tại xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan hệ hôn nhân giữa ông M và bà G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 26/3/2021, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Đời sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ông M yêu cầu ly hôn bà G. Hội đồng xét xử xét thấy bà G đã nhận các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông M, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự chỉ xem xét các tài liệu, chứng cứ mà ông M đã giao nộp có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử xét việc ông M yêu cầu ly hôn với bà G vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân được gần 01 năm, hiện nay ông không muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Về phía bà G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông M. Hội đồng xét xử không có cơ sở để hòa giải đoàn tụ, hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa ông M và bà G. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Ông M và bà G có một bé gái tên Lê Ngọc H, sinh ngày 08/02/2021. Ông M giao con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, ông M không cấp dưỡng nuôi con. Bà G vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến gì khác. Hội đồng xét xử xét thấy hiện trẻ H chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện đang sống cùng mẹ, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông M, giao trẻ H cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử giao con chung bà cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng. Ông M trình bày không cấp dưỡng nuôi con. Bà G không đến Tòa án, không thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì khác về vấn đề này. Hội đồng xét xử quyết định không buộc ông M cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trường hợp có lý do chính đáng, bà G và ông M có quyền thỏa thuận thay đổi về cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nghĩa vụ chung về tài sản: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông M phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phước M.

- Về hôn nhân: Ông Lê Phước M ly hôn bà Lê Thị G.

Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 26/3/2021 hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về nuôi con chung: Giao cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc H, sinh ngày 08/02/2021, ông M không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nghĩa vụ chung về tài sản: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông M chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0043915 ngày 22/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Ông M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ