- Tranh chấp gì? "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Văn D. phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật tố tụng Hình sự Bị cáo
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NDQ HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: /2018/HSST Ngày: 19/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Chu Thị Khuê
- Ông Nguyễn Đỗ Dụ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
- Ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên
Hôm nay ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 151/2018/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151 ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Văn D., sinh ngày 25 tháng 6 năm 1991 tại Ninh Bình; hộ khẩu thường trú: xóm 5, xã G., huyện G, tỉnh N.; nghề nghiệp: (không); trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Bùi Văn V. và bà: Hoàng Thị N.; Vợ: Bùi Thị T. và 01 con 05 tuổi.
Danh chỉ bản số 297, lập ngày 26 tháng 6 năm 2018 tại Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Tiền sự: (không).
01 tiền án: Ngày 23/4/2018, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. (Trị giá tài sản 13.157.000 đồng. Phạm tội ngày 23/12/2017).
Bị cáo tại ngoại - (Có mặt).
* Người bị hại:
Anh Nguyễn Mạnh C.; sinh năm 1997; hộ khẩu thường trú: xóm Phác, đội 2 thôn N., xã V., huyện B., thành phố H. - (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Ngày 30/5/2017, anh Nguyễn Mạnh C. đến trụ sở công an phường Hàng Buồm trình bày: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 18/5/2017, anh C. đang làm việc tại quán café trên tầng 2 số nhà 59 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì Bùi Văn D. là nhân viên bảo vệ thuộc Công ty TNHH Dịch vụ bảo vệ Quốc tế Hoàng Gia được bố trí làm nhiệm vụ tại nhà hàng Piper số 59 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đến hỏi mượn chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 28L1-02991 đi khoảng 05 phút rồi về trả. Đến ngày 30/5/2017, D. vẫn chưa mang xe trả cho anh C. và không làm việc tại cửa hàng, anh C. đã nhiều lần liên lạc qua số điện thoại của D. nhưng không được.
Theo kết luận định giá: 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1-029.91 trị giá là 8.000.000 đồng.
Ngày 17/8/2017, Cơ quan CSĐT - Công an quận Hoàn Kiếm đã ra thông báo truy tìm đối tượng Bùi Văn D. và thông báo truy tìm xe mô tô.
Ngày 23/12/2017, Bùi Văn D. có hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trị giá là 13.157.000 đồng của chị Nguyễn Huyền Trang tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 28/01/2018, Bùi Văn D. bị bắt giữ về hành vi này. Tại cơ quan điều tra huyện Gia Viễn, Bùi Văn D. khai đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1 - 02991 của anh Nguyễn Mạnh C. tại 59 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngày 14/3/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Gia Viễn đã gửi công văn đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm để điều tra hành vi của Bùi Văn D. liên quan đến chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1 - 02991.
Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm đã tiến hành lấy lời khai, Bùi Văn D. khai là nhân viên bảo vệ thuộc Công ty TNHH Dịch vụ bảo vệ Quốc tế Hoàng Gia được bố trí làm nhiệm vụ tại nhà hàng Piper số 59 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đến tháng 05/2017, anh Nguyễn Mạnh C. đến làm việc tại quán café trên tầng 02 số nhà 59 phố Hàng Buồm. Do không có phương tiện đi lại nên D. nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh C.. Khoảng 18h45 ngày 18/5/2017, D. đến hỏi mượn anh C. chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1-02991 nói đi sửa điện thoại. Sau khi anh C. đưa chìa khóa và xe máy, D. không đi sửa điện thoại mà điều khiển xe máy đi luôn, không trở về chỗ làm đồng thời thay sim điện thoại khác nhằm mục đích để anh C. không liên lạc với D.. Sau đó, D. tiếp tục sử dụng chiếc xe máy mượn của anh C. cho đến khi bị cơ quan điều tra - Công an huyện Gia Viễn bắt về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tài liệu điều tra thể hiện khoảng cuối tháng 5/2017, sau khi Bùi Văn D. lấy chiếc xe máy của anh Nguyễn Mạnh C., D. nhắn tin facebook với anh Nguyễn Văn Tọa trong đó D. nói nếu C. muốn chuộc xe thì phải đưa D. 6.000.000 đồng nhưng sau đó D. chặn facebook nên anh Tọa không thể tiếp tục liên lạc với D.. Xét thấy, hành vi của Bùi Văn D. chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm không có hình thức xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1-029.91 số khung: 1201BY493494, số máy: C12E3293532 dung tích xylanh 97cm3, quá trình điều tra xác định đăng ký xe mang tên anh Trần Đức Cảnh đã bán cho anh Nguyễn Mạnh C. từ tháng 5/2016 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 06/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm đã trao trả chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1-029.91 cho anh Nguyễn Mạnh C.. Sau khi nhận lại tài sản, anh C. không có yêu cầu gì khác.
Bản cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 26 tháng 7 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Bùi Văn D. về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Bùi Văn D. đều khai nhận vào khoảng 18h45’ ngày 18/5/2017, Bùi Văn D. đã có hành vi giả vò mượn xe máy của anh Nguyễn Mạnh C. (xe máy Honda Wave biển số 28L1-029.91 có giá trị 8.000.000 đồng) đi có việc khoảng 5 phút. Nhưng sau khi mượn xe D. không mang về trả như đã hẹn mà chiếm đoạt luôn. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn D. về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ
đến
tháng tù.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét vì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi: Bị cáo Bùi Văn D. là nhân viên bảo vệ được bố trí làm nhiệm vụ tại nhà hàng Piper số 59 phố Hàng Buồm. Anh Nguyễn Mạnh C. làm việc tại quán cà phê trên tầng 2 số nhà 59 phố Hàng Buồm. Thỉnh thoảng D. và anh C. hay nói chuyện với nhau, do không có phương tiện đi lại nên D. đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của anh C. để làm phương tiện đi lại. Khoảng 18h45 ngày 18/5/2017, D. hỏi mượn anh C. chiếc xe máy Honda Wave màu trắng biển số 28L1 - 02991 (trị giá 8.000.000 đồng) nói đi sửa điện thoại. Do tin tưởng D. là bảo vệ tại nhà hàng nên anh C. đồng ý cho D. mượn xe máy. Sau khi anh C. đưa chìa khóa và xe máy, D. điều khiển xe máy đi luôn, không trở về chỗ làm đồng thời thay sim điện thoại khác nhằm mục đích để anh C. không liên lạc với D. nữa. Sau đó, D. tiếp tục sử dụng chiếc xe máy cho đến ngày 28/01/2018 bị cơ quan điều tra - Công an huyện Gia Viễn bắt về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, hành vi của Bùi Văn D. phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân về tài sản và trật tự an toàn xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo có một tiền án; do vậy, cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, do bị cáo không việc làm nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Người bị hại anh Nguyễn Mạnh C. đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xét.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bùi Văn D. phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Hình phạt:
Áp dụng: khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bùi Văn D. 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính bắt thi hành án.
3. Án phí:
Áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
* Nơi nhận:
| - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Công an quận Hoàn Kiếm; - Chi cục THA DS quận Hoàn Kiếm; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thu Hiền |