- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? . Áp dụng điểm a khoản Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 3 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2024/HS-PT Ngày: 23-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
ông Phạm Văn Hợp
ông Đinh Phước Hoà
- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Lê Ra - Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án
nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần: trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 65 2024 TLPT-HS ngày tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn B về tội “Giết người”.
Do có kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại đối với Bản án
hình sự s thẩm số 08 2024 HS-ST ngày 29 tháng 0 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 49 2024 QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024.
. Bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn B (tên gọi khác: không), sinh ngày 20 tháng 5 năm
996 tại tỉnh Bình Định; n i cư trú: thôn Đ, xã C, huy n P, tỉnh Bình Định; quốc tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: 8 2; nghề nghi p: làm thuê; con ông Trần Văn v con bà Phạm Thị C; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 20 tháng 2 năm 20 3 bị Tòa án nhân dân huy n Phù
Cát, tỉnh Bình Định xét xử và xử phạt 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 3 tháng 7 năm 2023, có mặt tại phiên toà.
2. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Thị H - Công ty L, Chi nhánh
B2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, có mặt tại phiên toà.
3. Người đại di n hợp pháp của bị hại có kháng cáo:
3.1. Trần Văn , sinh năm 96 ; địa chỉ: Đ, C, P, Bình Định, có mặt tại
phiên toà.
3.2. Trần Thị Y, sinh năm 992; địa chỉ: Đ, C, P, Bình Định, có mặt tại
phiên toà.
3.3. Trần Thị Tuyết C , sinh năm 990. Người đại di n theo ủy quyền,
ônh Trần Văn , sinh năm 96 ; địa chỉ: Đ, C, P, Bình Định, có mặt tại phiên toà.
3.4. Trần Thị C2, sinh năm 998; địa chỉ: L, M, P, Bình Định, có mặt
tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án s thẩm và các tài li u, chứng cứ có trong hồ s vụ án được
tóm tắt như sau:
Trước tháng 5 năm 2023, trong thời gian đi biển, Trần Văn B có sử dụng
ma túy đá (loại Methamphetamine). Đến khoảng cuối tháng 5 năm 2023, B làm thuê tại c sở nuôi tôm của ông Nguyễn Tất T. Khoảng ngày 25 tháng 7 năm 2023, Trần Văn B xuất hi n các biểu hi n bất thường như: mất ngủ, nói nhảm, mắt lờ đờ, khóc, cười vô cớ, không nhớ được công vi c làm… Đến sáng ngày 29 tháng 7 năm 2023, anh Huỳnh Văn P là người làm chung với B chở B về nhà để gia đình chăm sóc, nghỉ ng i vài ngày. Khi về nhà, B tiếp tục có những biểu hi n bất thường như lầm lì, không chịu ăn uống, khi bà Phạm Thị C là mẹ ruột của B đút đồ ăn thì B nói ăn đồng loại, ăn ác quỷ sao ăn được, nhìn về hướng núi trước nhà nói có cả nghìn người chuẩn bị đi càn quét… Chiều cùng ngày, bà C mời bà Nguyễn Thị C3 là y tế của thôn đến nhà kiểm tra huyết áp, thân nhi t cho B, kết quả chỉ số đều bình thường. Bà C3 có bán 06 liều thuốc bổ thần kinh cho B uống và gia đình dự kiến đến ngày 3 tháng 7 năm 2023 sẽ đưa B đến B nh vi n T2 để khám b nh.
Tối ngày 30 tháng 7 năm 2023, Trần Văn B nằm ngủ cùng bà Phạm Thị
C tại phòng khách, cha của B là ông Trần Văn , mắt bị giảm thị lực không còn khả năng quan sát nằm ở phòng sau nhà. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, B dậy rồi bất ngờ đi đến nắm lấy 02 tay của ông V kéo lê ra sân bên hông nhà gần mái hiên thì ông V la hét nói: “Mầy kéo tao đi đâu vậy”. Lúc này, bà C trong nhà nghe được chạy ra gỡ tay của B, đồng thời ông V dùng chân đạp 0 cái vào người của B thì B thả ông V ra. Bà C nói với ông V đi gọi vợ chồng con gái ruột là chị Trần Thị Y, anh Ngô Văn H ở bên cạnh nhà sang giúp. Trong khi ông V dò đường đi gọi vợ chồng Y thì có nghe tiếng bà C nói: “Mẹ đây con, mẹ đây con”. Khoảng 04 phút sau, khi nghe tiếng gọi của ông V, vợ chồng chị Y, anh H1 chạy sang nhưng không thấy bà C và B đâu nên chạy tìm kiếm xung quanh thì nhìn thấy B đang đứng ở giữa ao nuôi cá ở phía sau nhà (mực nước đến ngang ngực của B). Do trời tối không quan sát được rõ nên chị Y quay vào nhà lấy đèn pin ra rọi về phía B thì phát hi n B đang dùng tay nắm lấy phần lưng của bà C (lúc này thân người bà C chìm dưới nước). Vợ chồng chị Y liền la lên và lội xuống ao để vớt bà C lên nhưng B giằng co, giữ bà C lại không cho đưa vào bờ. Anh H1 xô đẩy B ra và dùng chân đạp B 01 cái thì B bỏ chạy lên bờ, trốn ở bờ ao gần đó. Nghe tiếng kêu la của vợ chồng chị Y, vợ chồng ông Trần T , bà Lê Thị B ở bên cạnh chạy sang cùng giúp đưa bà C lên bờ, nhưng bà C đã chết. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 3 tháng 7 năm 2023, B quay về vào nhà thấy thi thể bà C đặt ở phòng khách. Lúc này, chị Y nói với B: “Em giết mẹ rồi” thì B nói lại: “Mẹ không chết đâu”; rồi B đem nước đến rửa mặt cho bà C và nói: “Rửa mặt mẹ sẽ tỉnh”. Sau đó, lực lượng Công an xã C, huy n P, tỉnh Bình Định đến đưa B về trụ sở làm vi c và B khai rằng do nghĩ rằng bà C là ác quỷ nên dùng tay nắm đầu tóc bà C kéo ra ao cá sau nhà dìm xuống nước cho bà C chết.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 250 KLGĐTT-PYBĐ ngày 07
tháng 8 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: nguyên nhân chết của bà Phạm Thị C là do ngạt nước.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số:
327 KLGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền T đối với Trần Văn B như sau:
- Trước thời điểm gây án:
+ Kết luận về y học: rối loạn tâm thần mức độ nặng trong rối loạn tâm
thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần khác (M1), trạng thái hỗn hợp (F 9.56).
+ Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: mất khả năng
nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
- Tại thời điểm gây án:
+ Kết luận về y học: rối loạn tâm thần mức độ nặng trong rối loạn tâm
thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần khác (M1), trạng thái hỗn hợp (F 9.56).
+ Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: mất khả năng
nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
- Tại thời điểm hi n tại:
+ Kết luận về y học: rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành
vi do sử dụng chất tác động tâm thần khác (M1), trạng thái hỗn hợp (F 9.56).
+ Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: hạn chế khả
năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
V i nội dung nêu trên, tại B n án h nh s s thẩm s
HS-ST ngà
tháng n m
c a Tòa án nhân dân t nh B nh Đ nh đ qu t đ nh:
Tuyên bố: bị cáo Trần Văn B phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm đ khoản Điều 23; điểm b, q, s khoản , khoản 2 Điều
5 ; khoản Điều 54; Điều 3 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn B 0 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 3 tháng 7 năm 2023.
Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo.
Ngày 07 tháng 02 năm 2023 người đại di n hợp pháp của bị hại (Trần
Thị C2, Trần Văn , Trần Thị Y) kháng cáo bản án s thẩm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại di n hợp pháp của bị hại trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu:
Về tố tụng: kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại là trong
thời hạn luật định.
Về nội dung: Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo Trần Văn B về tội “Giết
người” theo điểm đ khoản Điều 23 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Từ đó xử phạt bị cáo Trần Văn B 0 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm bị cáo, người đại di n hợp pháp của bị hại không có tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự mới. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án s thẩm.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: bị cáo dùng chất kích thích là
ma tuý nên ảnh hưởng gây ảo giác. Thống nhất về tội danh xét xử bị cáo. Mong Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo và bị hại là mẹ con, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức, hoàn cảnh khó khăn. Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thống nhất.
Người đại di n hợp pháp của bị hại trình bày: Mong Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên c sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ s vụ án
đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[ ] Về tố tụng:
Ngày 07 tháng 02 năm 2023 người đại di n hợp pháp của bị hại (Trần
Thị C2, Trần Văn , Trần Thị Y) kháng cáo Bản án hình sự s thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 29 tháng 0 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như vậy, kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại là trong thời hạn luật định. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại:
[2. ] Về tội danh:
Quá trình điều tra, xét xử s thẩm và phúc thẩm bị cáo Trần Văn B khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hi n: trước khi thực hi n hành vi phạm tội ngày 30 tháng 7 năm 2023, Trần Văn B đã từng sử dụng chất kích thích là ma túy loại Methamphetamin dẫn đến rối loạn tâm thần gây ảo giác. Tối ngày 30 tháng 7 năm 2023, Trần Văn B nghĩ rằng bà Phạm Thị C mẹ ruột của mình là ác quỷ, nên B đã dùng tay nắm đầu tóc của bà C kéo ra ao cá sau nhà và dìm xuống nước. Hậu quả bà Phạm Thị C tử vong do ngạt nước. Kết luận giám định pháp y tâm thần xác định Trần Văn B tại thời điểm gây án là mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi do dùng chất kích thích là M. Đối chiếu quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự thì Trần Văn B vẫn phải chịu trách nhi m hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn B phù hợp với lời khai
của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, Bản kết luận giám định pháp y và các tài li u, chứng cứ khác có tại hồ s vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ khẳng định: Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo Trần Văn B về tội “Giết người” theo Điều 23 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Bà Phạm Thị C mẹ ruột của bị cáo Trần Văn B và bị chính B dìm xuống
nước dẫn đến bà C bị ngạt nước và tử vong. Do đó, bị cáo bị xét xử theo điểm đ khoản Điều 23 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 là đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là đặc bi t nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến tính
mạng bị hại mà còn gây bất bình trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phư ng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” với mức hình phạt tù.
Tòa án cấp s thẩm đã đánh giá, nhận định về tính chất, hành vi phạm
tội, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Từ đó xử phạt bị cáo Trần Văn B 0 (mười) năm tù là có căn cứ, thỏa đáng, không nặng.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay bị cáo Trần Văn B và người
đại di n hợp pháp của bị hại không có tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự mới. Với những nội dung đã được nhận định, phân tích tại các mục [ ], [2] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại. Giữ nguyên bản án s thẩm.
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Văn B phải chịu theo quy định
của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
. Áp dụng điểm a khoản Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người đại di n hợp pháp của bị hại. Giữ nguyên bản án s thẩm.
2. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn B phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm đ khoản Điều 23; điểm b, q, s khoản , khoản 2 Điều
5 ; khoản Điều 54; Điều 3 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn B 0 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 3 tháng 7 năm 2023.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ.
Các quyết định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Thành viên Hội đồng xét xử
| (Đã ký) Phạm Văn Hợp Đinh Phước Hoà | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Quốc Cường |