- Tranh chấp gì? Tranh chấp đòi nhà cho thuê — án dân sự — "Tranh chấp thuê ki ốt"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2024/DS-ST Ngày: 26/8/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê Ki ốt. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Luyện
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên,
Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 54/2024/TLST-DS ngày 02/4/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng thuê Ki ốt" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên N.
Địa chỉ: Số 1 phố N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Thiều Hữu H – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chiến T (Có mặt).
(Văn bản ủy quyền số 235/UQ-HUDS ngày 22/4/2024)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T
Địa chỉ: Số 26 ngõ 548 đường N, quận L, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội
Địa chỉ : Số 12 phố Lê Lai, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội (Vắng
mặt).
Tổng công ty đầu tư phát triển N;
Địa chỉ: Toà nhà HUD Tower, số 37 đường L, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoài Đ – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Phú C (Có mặt).
(Văn bản uỷ quyền số 1937/UQ-HUD ngày 21/6/2024)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và các lời khai tiếp
theo, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Tổng công ty đầu tư phát triển N được giao là chủ đầu tư xây dựng khu đô thị V
tại Quyết định số 3819/QĐ-UB ngày 18/6/2004 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội.
Công ty TNHH một thành viên dịch vụ N được giao quản lý, khai thác tài
sản Nhà nước là các Ki ốt tầng 1 các chung cư tại khu đô thị V.
Ngày 01/01/2015 Công ty N ký hợp đồng cho thuê Ki ốt số 21/15/HĐTKÔ
với bà Nguyễn Thị T. Theo hợp đồng, Công ty N cho bà T thuê Ki ốt số 6, nhà chung cư K1, khu đô thị V, quận L, Thành phố Hà Nội. Diện tích thuê là 40,02m2; Thời hạn thuê từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2016.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, theo Kết luận số 811/KL-TTCP ngày
13/4/2015, Thanh tra Chính Phủ yêu cầu Tổng Công ty N và các Công ty thành viên có kế hoạch cụ thể bàn giao tầng 1 các chung cư thuộc diện phải bàn giao cho Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội.
Ngày 12/8/2015 Tổng Công ty N ra Nghị quyết số 565/NQ-HĐTV yêu cầu
Công ty N phối hợp bàn giao tầng 1 các chung cư cho UBND Thành phố Hà Nội.
Thực hiện chỉ đạo, từ ngày 10/9/2015 Công ty N không ký hợp đồng với
khách hàng để chuẩn bị công tác bàn giao mặt bằng. Ngày 01/6/2016 Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội có văn bản số 3232/UBND-KT yêu cầu Tổng công ty N chấm dứt việc cho thuê và nộp nghĩa vụ tài chính. Theo đó Công ty N dừng thu tiền thuê của khách hàng từ thời điểm 01/6/2016.
Sau ngày 31/12/2016 hai bên không ký hợp đồng mới tuy nhiên bà T vẫn
tiếp tục sử dụng trái phép mặt bằng Ki ốt. Công ty N đã nhiều lần yêu cầu bà T thanh toán tiền thuê, bàn giao mặt bằng nhưng bà T không thực hiện. Ngày 31/5/2023, bà Thanh tự nguyện bàn giao mặt bằng Ki ốt.
HUDS yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại mặt bằng số 6, tầng 1, chung cư K1 Khu
đô thị V;
- Bồi thường cho Công ty N số tiền sử dụng trái phép Ki ốt số 6, tầng 1,
chung cư K1 Khu đô thị V tạm tính từ ngày 01/7/2016 đến ngày 31/7/2020 là 329.522.214 đồng;
- Số tiền bồi thường sẽ tính tiếp kể từ ngày 01/8/2020 cho đến ngày xét xử
cộng với lãi suất chậm trả thi hành án (Nếu có).
Tại bản tự khai, người đại diện theo uỷ quyền của Tổng công ty N trình
bày: Hợp đồng thuê Ki ốt đã hết hạn, các bên không ký hợp đồng mới nhưng bị đơn vẫn sử dụng trái phép Ki ốt. Nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc bà T
phải thanh toán số tiền lãi chậm trả trên số tiền phải thanh toán do sử dụng trái phép mặt bằng Ki ốt từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/5/2023 và yêu cầu đòi mặt bằng Ki ốt.
Đề nghị Toà án buộc bà T phải trả số tiền tính từ ngày 01/07/2016 đến ngày
30/5/2023 là 364.037.938 đồng.
Đại diện theo uỷ quyền của Tông công ty N vẫn giữ nguyên ý kiến như đã
trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn
phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền sử dụng Ki ốt từ ngày 01/7/2016 ngày 30/5/2023 là 364.037.938 đồng.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn đã rút tại phiên toà.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng thuê Ki ốt được quy định
tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và nơi thực hiện hợp đồng đều có địa chỉ tại quận Long Biên, Thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Long Biên.
Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về yêu cầu thanh toán số tiền thuê Ki ốt và bồi thường thiệt hại tương
ứng với số tiền sử dụng Ki ốt:
Hợp đồng thuê Ki ốt đã hết hạn và hai bên không ký hợp đồng thuê mới
nhưng bị đơn vẫn tiếp tục sử dụng mà không trả lại tài sản thuê đã gây thiệt hại cho nguyên đơn do không bàn giao được mặt bằng cho Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội để kinh doanh khai thác, do đó cần buộc bị đơn phải thanh toán số tiền thuê Ki ốt và bồi thường thiệt hại tương ứng với tiền thuê mặt bằng đến ngày bàn giao mặt bằng.
Về diện tích Ki ốt: Theo hợp đồng, diện tích thuê là 40,02m2, sau đó
Công ty N đã đo đạc lại và xác định diện tích Ki ốt là 39,53m2 để làm cơ sở tính tiền thuê. Việc điều chỉnh giảm diện tích thuê có lợi cho bị đơn nên ghi nhận sự tự nguyện của Công ty N.
Về đơn giá để truy thu tiền thuê: Công ty N căn cứ vào đơn giá tại Phụ
lục kèm theo văn bản số 462/UBND-ĐT ngày 17/02/2021 của UBND thành phố Hà Nội để làm cơ sở truy thu tiền thuê kiốt, theo đó giá thuê kiốt là 141.359 đồng/m2/tháng, đơn giá này đã được Uỷ ban nhân dân Thành phố tham khảo trên cơ sở Chứng thư số 72201/CT-VVGC/BAN5 ngày 22/7/2020 của Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ tài chính Việt Nam. Do vậy, Công ty N thực hiện việc áp giá truy thu theo văn bản số 462/UBND-ĐT ngày 17/02/2021 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội là có cơ sở.
Về số tiền truy thu: Công ty N yêu cầu Toà án buộc bà T phải trả số tiền
tính từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/5/2023 là 364.037.938 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
Để đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án, cần áp dụng Điều 357,
468 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất trong thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải
thanh toán.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 146, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 305, 401, 402, 490 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ
N đối với bà Nguyễn Thị T.
Buộc bà Nguyễn Thị T phải thanh toán tiền sử dụng Ki ốt số 6, nhà chung cư
K1, khu đô thị V, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/5/2023 cho Công ty TNHH một thành viên dịch vụ N với số tiền là 364.037.938 (Ba trăm sáu mươi bốn triệu ba mươi bảy ngàn chín trăm ba mươi tám) đồng.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nguyên đơn đã rút tại phiên toà.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 18.201.896 (Mười tám triệu hai trăm lẻ một ngàn
tám trăm chín mươi sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Công ty TNHH một thành viên dịch vụ N số tiền 8.238.000 (Tám
triệu hai trăm ba mươi tám ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 18589 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên;
- Đương sự;
- Lưu VP, HS.
Trần Anh Tuấn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên;
- Đương sự;
- Lưu VP, HS.
Trần Anh Tuấn
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên; - Đương sự; - Lưu VP, HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BÁO CÁO XÉT XỬ VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI Kính gửi: Lãnh đạo Toà án nhân dân quận Đống Đa Tôi là Trần Anh Tuấn, Thẩm phán Báo cáo vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 41/2022/TLST-KDTM ngày 16/5/2022 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng", giữa các đương sự: 2. Bị đơn: Công ty TNHH Sơn Phúc Nguyễn Quốc Cường NỘI DUNG VỤ ÁN Nam Thịnh Vượng ký hợp đồng cho vay số 011018-5107984-01-SME. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho Công ty vay số tiền hạn mức 1.000.000.000 đồng lãnh số 5107984/HĐBL/VPBANK-01-SME. Ngày 09/10/2018 ông Nguyễn Quốc Cường và Ngân hàng đã ký hợp đồng bảo lãnh số 5107984/HĐBL/VPBANK-02-SME. Theo hợp đồng bảo lãnh, ông Sơn và ông Cường đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang cho bên được bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay số 011018-5107984-01-SME ngày 09/10/2018. theo thỏa thuận. số tiền còn nợ; Tiếp tục tính lãi, phạt chậm trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng; Trường hợp Công ty không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty, ông Bùi Ngọc Sơn, ông Nguyễn Quốc Cường để thu hồi nợ. Thẩm phán đề xuất: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Về án phí : Bị đơn phải chịu án phí KDTM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM BÁO CÁO XẫT XỬ VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI Kính gửi: lãnh đạo Tòa án nhân dân quận Đống Đa Tôi là: Trần Anh Tuấn, thẩm phán Xin báo cáo vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 139/2020/TLST-KDTM ngày 17/11/2020 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" giữa: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng 2. Bị đơn: Công ty TNHH Đá Trường Gia 3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hữu Trường Nội dung vụ án Ngày 21/6/2018 Công ty TNHH Đá Trường Gia (Sau đây viết tắt là Công ty) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng cho vay hạn mức số 200618-4802701-01-SME. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho Công ty vay số tiền hạn mức 1.000.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, thời hạn vay 12 tháng. Ngày 21/6/2018 ông Trịnh Hữu Trường và Ngân hàng đã ký hợp đồng bảo lãnh số 200618-4802701/HĐBL/VPBANK. Theo hợp đồng, ông Trường đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang cho bên được bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số số 200618-4802701-01-SME ngày 21/6/2018. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty thông qua 04 khế ước nhận nợ: - Khế ước nhận nợ số 210618 ngày 21/6/2018: Số tiền vay 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 21,9%/năm; - Khế ước nhận nợ số 220818 ngày 22/8/2018: Số tiền vay 165.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 24,9%/năm; - Khế ước nhận nợ số 280918 ngày 28/9/2018: Số tiền vay 95.040.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 25,2%/năm, điều chỉnh 03 tháng 1 lần + biên độ 9%; - Khế ước nhận nợ số 251018 ngày 25/10/2018: Số tiền vay 99.990.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 25,2%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Ngày Tính đến ngày 28/6/2021 Công ty còn nợ Ngân hàng số tiền 1.403.031.670 đồng trong đó nợ gốc là 622.941.213 đồng, nợ lãi là 683.167.503 đồng, phạt chậm trả lãi là 96.922.503 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ; Tiếp tục tính lãi, phạt chậm trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; Trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty và ông Trịnh Hữu Trường để thu hồi nợ. Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng cho vay hạn mức số 200618-4802701-01-SME. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho Công ty vay số tiền hạn mức 1.000.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, thời hạn vay 12 tháng. lãnh số 200618-4802701/HĐBL/VPBANK. Theo hợp đồng, ông Trường đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang cho bên được bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số số 200618-4802701-01-SME ngày 21/6/2018. ước nhận nợ: viết tắt là Công ty) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng số LD1025700023. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho Công ty vay số tiền 300.000.000 đồng, mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay soát 31F-4229 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty. khế ước nhận nợ số LD1025700023 ngày 15/9/2010 viết tắt là Công ty) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng hạn mức số LD1106000120/ LD1106100199. Theo hợp đồng Ngân hàng cho Công ty vay 30.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh, lãi suất vay quy định theo từng khế ước nhận nợ. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: Đống Đa, Thành phố Hà Nội, tổng diện tích 38,8 m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10109355479 do UBND Thành phố Hà Nội cấp ngày 05/6/2003 cho ông Trần Bình Thuận và bà Vũ Thị Hòa. số 00, diện tích 103 m2, địa chỉ: Số 24 ngõ 19 đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 167540 do UBND quận Hà Đông cấp ngày 01/12/2010 cho ông Trần Bình Thuận. số ......., diện tích........., địa chỉ: Số 56 ngõ 203 Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10109092802 do UBND quận Đống Đa cấp ngày 28/10/2003 cho ông Trần Bình Thuận và bà Vũ Thị Hòa. số 5, diện tích 229 m2, địa chỉ: Xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 432663 do UBND huyện Từ Liêm cấp ngày 16/12/2003 cho hộ gia đình ông Lưu Đức Tuyển, sang tên cho ông Trần Bình Thuận ngày 02/12/2010. phố Hà Nội, diện tích 17,1 m2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10105255065 do UBND Thành phố Hà Nội cấp ngày 16/10/2000 cho ông Nguyễn Đức Thành và bà Trần Thị Tuyết Trinh. bản đồ số 35, địa chỉ: Xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô BI 169029 do UBND huyện Từ Liêm cấp ngày 28/11/2011 cho ông Nguyễn Đức Tiến. số....., địa chỉ: Số 38/198 Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101110511837 do UBND Thành phố Hà Nội cấp ngày 06/10/2003 cho ông Thiều Nhật Tình và bà Bùi Thị Thanh. Công ty thông qua 16 khế ước nhận nợ: 35.972.308.518 đồng trong đó nợ gốc là 30.164.000.000 đồng, nợ lãi là 4.391.937.923 đồng, phạt chậm trả lãi là 1.416.370.595 đồng. bộ số tiền còn nợ; Tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; Trường hợp Công ty không trả nợ thì Ngan hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ. Ngân hàng để vay tiền. Do kinh tế khó khăn nên Công ty chưa thanh toán được khoản nợ. Công ty đề nghị Ngân hàng cho thêm thời gian để tìm phương án trả nợ. Tình, bà Bùi Thị Thanh trình bày: Ông, bà thống nhất dùng tài sản thuộc quyền sở hữu là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số....., địa chỉ: Số 38/198 Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội để đảm bảo cho khoản vay của Công ty. Ông đề nghị Ngân hàng cho ông trả tiền và Giải chấp tài sản trên. thống nhất dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là căn hộ số nhà 15 Đường Thành, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của Công ty. Ông, bà sẽ trả tiền và đề nghị Ngân hàng giải chấp tài sản trên. chấp tài sản với Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của Công ty. Tài sản thế chấp là căn hộ 101 và 201 nhà C1 tập thể Vĩnh Hồ, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Ông, bà đề nghị sẽ đưa tài sản khác thế chấp cho Ngân hàng thay thế cho tài sản trên. hàng để đảm bảo cho khoản vay của Công ty. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 181, 182, tờ bản đồ số 35, địa chỉ: Xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Do Công ty khó khăn nên ông đề nghị Ngân hàng bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. tài sản là nhà đất của ông để vay tiền làm ăn. Ông cùng vợ và 2 con lập hợp đồng ủy quyền cho chị Nguyệt nhưng có thỏa thuận miệng là chị Nguyệt chỉ được vay 1 tỷ đồng. Ông cho rằng tài sản đang thế chấp cho Ngân hàng được cấp cho hộ gia đình ông trong đó có anh Phạm Văn Huy, tuy nhiên hợp đồng ủy quyền cho chị Nguyệt không có chữ ký của anh Huy. Ông đề nghị xem xét. chị Trần Thị Kim Xuân. Chị có ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất với chị Xuân nhưng chỉ nhằm mục đích vay tiền. Chị đề nghị Tòa án để chị trả chị Xuân tiền vay và trả lại tài sản cho ông Tuyển. Nguyệt. Khi mua chị đã kiểm tra thấy chị Nguyệt có giấy ủy quyền cho chị Nguyệt nên chị mới mua. Việc mua bán đã làm đầy đủ thủ tục và đã sang tên chị. Chị khẳng định chị không cho chị Nguyệt vay tiền mà chỉ mua bán nhà đất với chị Nguyệt hợp đồng ủy quyền của ông với chị Nguyệt và các hợp đồng chuyển nhượng nhà đất của ông và hợp đồng thế chấp của hợp đồng tín dụng số LD1025700023 ngày 15/9/2010. Ngân hàng đã giải chấp cho công ty tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô Toyota Yaris, biển kiểm soát 31F- 4229. 181,182 xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm và có đơn xin rút 1 phần yêu cầu khởi kiện Thẩm phán đề xuất : - Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc: 30.000.000.000 đồng theo 16 khế ước nhận nợ. Do đó chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về số tiền nợ gốc. lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, cách thức tính lãi. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn là đúng quy định của hợp đồng tín dụng đó ký kết. Do đó yêu cầu về khoản nợ lãi là phự hợp với quy định của pháp luật và được chấp nhận. quyền, anh Phạm Văn Huy chưa đủ 15 tuổi nên theo quy định tại Điều 109 BLDS hợp đồng ủy quyền có hiệu lực pháp luật. Do đó không chấp nhận yêu cầu của opong Tuyển Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí KDTM. Ông Tuyển phải chịu án phí do yêu cầu độc lập không được chấp nhận | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Tuấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng 3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Ngọc Sơn, ông Ngày 09/10/2018 Công ty TNHH Sơn Phúc và Ngân hàng TMCP Việt Ngày 09/10/2018 ông Bùi Ngọc Sơn và Ngân hàng đã ký hợp đồng bảo Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải thanh toán toàn bộ Người báo cáo Trần Anh Tuấn Độc lập - Tự do - Hạnh phỳc -------- -------- Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ của Công ty sang nợ quá hạn. y 21/6/2018 Công ty TNHH Đá Trường Gia (Sau đây viết tắt là Công ty) và Ngày 21/6/2018 ông Trịnh Hữu Trường và Ngân hàng đã ký hợp đồng bảo Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty thông qua 04 khế * Ngày 15/9/2010 Công ty cổ phần công nghệ Tinh hoa Châu Á (Sau đây Tài sản đảm bảo cho khoản vay là ô tô nhãn hiệu Toyota Yaris, biển kiểm Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty số tiền 300.000.000 đồng thông qua * Ngày 01/3/2011 Công ty cổ phần công nghệ Tinh hoa Châu Á (Sau đây - Căn hộ 101 và 201 nhà C1 tập thể Vĩnh Hồ, phường Thịnh Quang, quận - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 55, tờ bản đồ - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số ..., tờ bản đồ - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 86, tờ bản đồ - Căn hộ số 15 Đường Thành, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Thành - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 181, 182, tờ - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đó giải ngân 30.000.000.000 đồng cho Tính đến ngày 11/10/2012 Công ty còn nợ Ngân hàng số tiền Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải thanh toán toàn Tại bản tự khai, Công ty trình bày: Công ty có ký 02 hợp đồng tín dụng với Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Thiều Nhật Ông Nguyễn Đức Thành và bà Trần Thị Tuyết Trinh trình bày: Ông, bà Ông Trần Bình Thuận, bà Vũ Thị Hòa trình bày: Ông, bà có ký hợp đồng thế Ông Nguyễn Đức Tiến trình bày: Ông có ký hợp đồng thế chấp với Ngân Ông Lưu Đức Tuyển trình bày: Ông đồng ý cho chị Trần Thị Nguyệt mượn Chị Trần Thị Nguyệt khai chị có mượn nhà đất của ông Tuyển để vay tiền Chị Trần Thị Kim Xuân khai : Chị có mua bán nhà đất với chị Trần Thị Ông Lưu Đức Tuyển có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu Quá trình giải quyết vụ án, Công ty đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ Ngân hàng giải chấp tài sản thế chấp ở 15 Đường Thành và thửa đất số Căn cứ hợp đồng tín dụng, Ngõn hàng đó cho giải ngân cho Công ty vay - Đối với yêu cầu tính lãi: hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ quy định về Do vậy cần buộc ụng Cường, bà Hạnh phải trả cho Ngõn hàng số tiền cũn nợ. - Đối với yêu cầu độc lập của người liên quan: Thời điểm ký hợp đồng ủy Người báo cáo Trần Anh Tuấn |