vanban.org

Bản án 151/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Diệu H về việc xin ly hôn với anh Lê Bá N. Xử cho chị Phan Thị Diệu H được ly hôn với anh Lê Bá N. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Lê Bá N không phải cấp dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số 151 ngày 28/9/2023"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai

Các H1 thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp

Bà Trần Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 133/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:396/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Chị Phan Thị Diệu H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp Mỹ Phước 1, xã Mỹ Q, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

Chổ ở hiện nay: Nhà trọ ông Đào Hiệp Thành, tổ 5, khu phố Phước K, thị trấn Hiệp P, huyện Nhơn T, Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Lê Bá N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp Mỹ Phước 1, xã Mỹ Q, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

Chổ ở hiện nay: Nhà trọ ông Đào Hiệp Thành, tổ 5, khu phố Phước K, thị trấn Hiệp P, huyện Nhơn T, Đồng Nai.

(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 3 năm 2023 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Phan Thị Diệu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Bá N có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú H1, huyện An P1, tỉnh An Giang vào năm 2016. Vợ chồng sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Lê Bá N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017. Trường hợp ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Lê Bá N đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Chị H và anh N có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú H1, huyện An P1, tỉnh An Giang vào năm 2016. Vợ chồng chồng sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Lê Bá N.

Do chị H và anh N kết hôn vào năm 2016, khi kết hôn anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8,9 Luật HNGĐ năm 2014. Nhận thấy, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017, khi ly hôn, chị H đề nghị được nuôi con chung, chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét việc chị H yêu cầu được nuôi con là có cơ sở nên căn cứ vào Điều 58 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Tòa án giao cháu Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017 cho chị H nuôi dưỡng, tạm thời anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi Nên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Diệu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Bá N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh N.

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Lê Bá N có địa chỉ tạm trú: Tổ 5, khu phố Phước K,thị trấn Hiệp P, huyện Nhơn T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Diệu H về việc xin ly hôn với anh Lê Bá N thì thấy rằng: Chị H, anh N kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú H1, huyện An P1, tỉnh An Giang vào năm 2016 nên xác định hôn nhân giữa chị H, anh N là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ.Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh N không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh N bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND thị trấn Hiệp P mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh N địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, vợ chồng chị H, anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H xử cho chị Phan Thị Diệu H được ly hôn anh Lê Bá N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017, trường hợp ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị H thì thấy rằng hiện tại cháu T1 còn nhỏ. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển một cách tốt nhất thì cần tiếp tục giao cháu Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017, cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.

Về án phí: Chị H là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của H1 đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 235, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 8,9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Diệu H về việc xin ly hôn với anh Lê Bá N. Xử cho chị Phan Thị Diệu H được ly hôn với anh Lê Bá N.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lê Cao T1, sinh ngày 11/4/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Lê Bá N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị H, anh N vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh N có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.

4. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.

5. Về án phí: Chị Phan Thị Diệu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0008524 ngày 21/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ án phí.

Chị Phan Thị Diệu H anh Lê Bá N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. * Nơi nhận :

Cỡ chữ