vanban.org

Bản án 151/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Trần Văn B. Về con chung: Giao cho ông Trần Văn B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Trần Quang H1, sinh ngày 15/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 18/7/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thúy Nga.

2. Bà Phạm Thị Cang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12a/2023/QĐXX-ST ngày 27/4/2023; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn T, xã Ba Ngạc, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/3/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị H trình bày: Bà và ông Trần Văn B kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông B không có trách nhiệm với gia đình, thường hay nhậu nhẹt và cờ bạc. Do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bà đã về nhà cha mẹ sống từ hơn một năm nay. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông Trần Văn B.

Về con chung: Bà và ông B có 01 con chung tên Trần Quang H1, sinh ngày 15/6/2020. Bà H giao con cho ông B nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 04/4/2023, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Văn B trình bày: Vợ chồng ông tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên. Vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do cuộc sống quá cơ cực nên bà H đã nhiều lần bỏ đi và để con lại cho ông nuôi. Hơn 1 năm rưỡi nay bà H đã bỏ đi luôn không về nữa. Ông có nghe thông tin chị H ngoại tình. Nay bà H xin ly hôn, ông đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: Vợ chồng ông có 01 con như bà H trình bày. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của bà H, ông yêu cầu được nuôi con và yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định. Do ông B và bà H đều có đơn xin vắng mặt nên HĐXX áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử vắng mặt ông B và bà H là có căn cứ. Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Hải nên quan hệ hôn nhân của ông B và bà H là hợp pháp. Qua xác minh tại địa phương thì bà H đã bỏ đi khỏi địa phương từ hơn 1 năm nay, để con lại cho ông B nuôi dưỡng. Nay bà H xin ly hôn, ông B cũng đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa làm việc nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông B vì mâu thuẫn đã trầm trọng. Về con chung: Bà H giao con cho ông B nuôi dưỡng, ông B yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX buộc bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn B là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, bà Phạm Thị H vắng mặt có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông B theo qui định tại khoản 1, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn B kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, nên quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà H là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Qua xác minh tại địa phương thì vợ chồng có mâu thuẫn và bà H đã bỏ đi từ một năm rưỡi nay. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó việc bà H xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn B có 01 con chung tên Trần Quang H1, sinh ngày 15/6/2020. Bà H giao con cho ông B nuôi dưỡng. Bà sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng. Ông B yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét thấy bà H hiện đang làm nông nghiệp tại đại phương, còn phải nuôi một con riêng của bà, thu nhập không ổn định. Do đó HĐXX giao cả con cho ông B nuôi dưỡng là phù hợp. Do bà H làm nông nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định nên HĐXX buộc bà H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí HNGĐ-ST và án phí DS-ST về nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Trần Văn B.

Về con chung: Giao cho ông Trần Văn B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Trần Quang H1, sinh ngày 15/6/2020.

Bà Phạm Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con tròn 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí HNGĐ-ST và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí DS-ST về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 2386 ngày 03/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên. Bà Phạm Thị H còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Duy Xuyên

- CCTHADS huyện Duy Xuyên.

- Các đương sự.

- Lưu HS –AV.

- UBND xã Duy Hải.

Võ Thị Minh Phượng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ