- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 151/2023/DS-ST Ngày: 04/7/2023 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Sức
2. Bà Nguyễn Thúy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-DS, ngày
09 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp dân sự “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2023/QĐXXST- DS, ngày 29 tháng 5 năm 2023
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội. Địa chỉ: số 169 phố Linh
Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Người đại diện theo pháp
luật: Ông Dương Quyết Thắng – chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Ngọc Bửu Ch – Chức vụ: Giám đốc
phòng giao dịch NHCSXH huyện Phú Tân. Địa chỉ số 177 Tôn Đức Thắng, thị
trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân. Là Nguyên đơn (theo Quyết định số 7300/QĐ –
NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội về việc
ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án). Ủy quyền lại cho bà Nguyễn Ngọc N
sinh năm 1981 chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện Phú Tân
(văn bản ủy quyền số 42/ QĐ – NHCS ngày 06 tháng 6 năm 2022)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1960, nơi cư trú: tổ 10, ấp Phú Hạ, xã
Phú X, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị A, sinh năm 1961, nơi
cư trú: tổ 10, ấp Phú Hạ, xã Phú X, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
(bà N có mặt, ông P, bà A vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa,
nguyên đơn do bà Nguyễn Ngọc N đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/12/2006 ông Nguyễn Văn P đại diện cho hộ gia đình vay vốn tại
phòng giao dịch NHCSXH huyện Phú Tân theo chương trình cho vay nhà trả chậm với số tiền vốn là 7.000.000đ, thời hạn trả nợ vay là đến ngày 05/11/2016, đến hạn do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Ngân hàng cho hộ gia đình ông P và bà A gia hạn nợ đến ngày 05/10/2021. Tuy nhiên, đến hạn nhưng ông bà vẫn không thanh toán nợ cho Ngân Hàng, lãi suất trong hạn là 0,25%/tháng, đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 12/10/2021 lãi suất nợ quá hạn là 0,325%/tháng. Đối với khoản vay này hộ gia đình ông P và bà A còn nợ lại ngân hàng vốn là 7.000.000đ và tiền lãi 2.983.000 đồng (tạm tính đến ngày 04/01/2023). Tổng cộng vốn và lãi là 9.983.000đồng.
Ngày 29/10/2008 bà Lê Thị A đại diện hộ gia đình vay vốn tại phòng giao
dịch NHCSXH huyện Phú Tân theo chương trình cho vay hộ nghèo số tiền 5.000.000đ, hạn trả là 29/10/2010, được gia hạn đến ngày 29/10/2013 và chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 29/10/2013.
Quá trình từ khi vay vốn đến thời gian trả nợ, thời gian cho gia hạn số nợ
phía Ngân hàng đã nhiều lần đến nhà gặp gở đôn đốc, nhắc nhở gia đình ông P và bà A thanh toán khoản nợ vốn và lãi cho Ngân hàng, nhưng vẫn phía ông bà vẫn không thực hiện việc trả nợ, mặc dù gia đình ông bà có khả năng trả nợ nhưng vẫn cố tình không trả.
Nay bà N đại diện cho Ngân hàng chính sách yêu cầu hộ gia đình Nguyễn
Văn P và bà Lê Thị A cùng có trách nhiệm trả số tiền vay vốn là 7.000.000đ và 5.000.000đ và tiền lãi 2.983.000 đồng (tạm tính đến ngày 04/01/2023). Tổng cộng vốn 12.000.000đ và lãi là 2.983.000 đồng. Tổng cộng là 14.983.000đ ( Mười bốn triệu chín trăm tám mươi ba ngàn đồng).
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không ghi nhận ý kiến.
Tại phiên tòa, bà N đại diện cho Ngân hàng chính sách yêu cầu ông
Nguyễn Văn P và bà Lê Thị A cùng có trách nhiệm trả số tiền vay vốn là 7.000.000đ và 5.000.000đ và tiền lãi 2.983.000 đồng (tạm tính đến ngày 04/01/2023). Tổng cộng vốn 12.000.000đ và lãi là 2.983.000 đồng. Tổng cộng là 14.983.000đ (Mười bốn triệu chín trăm tám mươi ba ngàn đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: theo chương trình cho vay nhà trả chậm với số
tiền vốn là 7.000.000đ, thời hạn trả nợ vay là đến ngày 05/11/2016, đến hạn do
hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Ngân hàng cho hộ gia đình ông P và bà A gia
hạn nợ đến ngày 05/10/2021. Tuy nhiên, đến hạn nhưng ông bà vẫn không thanh
toán nợ cho Ngân Hàng, lãi suất trong hạn là 0,25%/tháng, đã chuyển sang nợ
quá hạn kể từ ngày 12/10/2021 lãi suất nợ quá hạn là 0,325%/tháng. Đối với
khoản vay này hộ gia đình ông P và bà A còn nợ lại ngân hàng vốn là 7.000.000đ
và tiền lãi 2.983.000 đồng (tạm tính đến ngày 04/01/2023). Tổng cộng vốn và lãi
là 9.983.000đồng.
Ngày 29/10/2008 bà Lê Thị A đại diện hộ gia đình vay vốn tại phòng giao dịch
NHCSXH huyện Phú Tân theo chương trình cho vay hộ nghèo số tiền
5.000.000đ, hạn trả là 29/10/2010, được gia hạn đến ngày 29/10/2013 và chuyển
sang nợ quá hạn kể từ ngày 29/10/2013. Đến nay vẫn không thực hiện, nên ngân
hàng khởi kiện là có cơ sở. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn buộc ông P, bà A liên đới có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền
vốn và lãi là 14.983.000 đồng (mười bốn triệu chín trăm tám mươi ba ngàn
đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Chính sách xã hội khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P, bà A có trách nhiệm trả cho Ngân hàng
chính sách xã hội vốn vay là 12.000.000đ và lãi phát sinh theo sổ vay vốn cho
vay nhà ở hộ nghèo và chương trình cho vay nhà trả chậm, nên xác định quan hệ
pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại tổ 10, ấp Phú H, xã
Phú X, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang được quy định tại khoản 3
Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ
án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không vì sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng chính sách xã
hội với ông Nguyễn Văn P (đại diện cho hộ gia đình) và bà A là thành viên hộ có cam kết chịu trách nhiệm liên đới toàn bộ khoản vay, các bên xác lập hợp đồng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, được thể hiện bằng sổ vay vốn theo chương trình cho vay nhà trả chậm số tiền 7.000.000đ vào ngày 20/12/2006 thời hạn trả là ngày 05/11/2016 và bà A (đại diện hộ gia đình) vay hộ nghèo số tiền 5.000.000đ vào ngày 29/10/2008. Về hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở hợp đồng đã ký kết Ngân hàng giải ngân cho ông P, bà A.
Căn cứ các chứng cứ Ngân hàng chính sách xã hội yêu cầu gồm sổ vay
vốn theo chương trình cho vay hộ nghèo số tiền vay là 5.000.000đ và chương trình cho vay nhà trả chậm là 7.000.000đ. Tuy nhiên quá trình tố tụng các đương sự không có ý kiến gì đối với các chứng cứ này. Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý.
Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn với ông P, bà A được xác lập trên cơ
sở tự nguyện thỏa thuận với nhau theo hình thức sổ vay vốn, theo đó ông P, bà A đã nhận đủ số tiền vay của hợp đồng. Sau khi vay thì hộ ông P, bà A không thực hiện nghĩa vụ đóng lãi và trả vốn theo hợp đồng đã ký. Ngân hàng đã tạo điều kiện đôn đốc, nhắc nhở và các đương sự có cam kết trả nợ nhưng đến nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Vì vậy, buộc ông P, bà A có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân Hàng đối với số tiền vốn còn nợ của Ngân hàng với số tiền vốn 12.000.000 đồng.
Đối với tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, căn cứ theo quy định hợp đồng
các bên đã ký kết và theo Quyết định số 82/QĐ/HĐQT ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Ngân hàng về việc khoanh nợ từ thời gian 04/3/2021 đến 04/3/2024, trong thời gian này sẽ không phát sinh lãi, sau thời gian này sẽ phát sinh theo nợ quá hạn và lãi quá hạn, vì vậy yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp nghĩ nên chấp nhận. Tính đến ngày 04/7/2023 số tiền lãi của khoản vay 12.000.000 đồng là 2.983.000đ; Tổng cộng tiền lãi và vốn là 14.983.000 đồng.
Từ những cơ sở trên nghĩ nên buộc ông P, bà A có trách nhiệm liên đới trả
cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 04/7/2023 của hợp đồng tín dụng tổng cộng là 14.983.000đ.
Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu tiền án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
+ Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288 Bộ luật
dân sự năm 2015;
+ Các Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án,
- Tuyên xử:
Công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng chính sách xã hội đối với
ông Nguyễn Văn P và bà Lê Thị A
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội đối với sổ
vay vốn hai bên đã ký kết.
Buộc ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị A có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân
hàng chính sách xã hội số tiền vốn vay 12.000.000đ và lãi phát sinh tính đến ngày
04/7/2023 là 2.983.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 14.983.000 đồng.
Kể từ ngày 05/3/2024, ông P, bà A còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh
của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận sổ
vay vốn theo chương trình cho vay hộ nghèo và vay nhà trả chậm cho đến khi
thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về án phí sơ thẩm:
+ Ông Nguyễn Văn P, bà Lê Thị A phải chịu án phí là 750.000 đồng (bảy
trăm năm mươi ngàn đồng).
Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo
tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú Tân, AG; - Chi cục THA.DS huyện; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hs, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |