- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Minh H - phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Minh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 420/2021/HS-ST ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:151/2022/HSPT Ngày: 09/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Kim Rết
Các thẩm phán: Bà Triệu Thị Huỳnh Hoa
Ông Nguyễn Trung Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án t nh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 346/2021/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Hồ Minh H, do có kháng cáo của bị cáo H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 420/2021/HS-ST ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo kháng cáo: Hồ Minh H (tên gọi khác: Gấu), sinh ngày 14/6/1996 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: phường H, thành phố Biên Hòa, t nh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 08/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn C1, (đã chết) và bà Lê Thị Tuyết M1, sinh năm 1973; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; và chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Hữu Nhân – Văn phòng Luật sư Trần Hữu Nhân, thuộc Đoàn Luật sư t nh Đồng Nai.
Địa ch : Số 9/2A, đường Huỳnh Văn Nghệ, khu phố 2, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, t nh Đồng Nai.
(Bị cáo H có mặt, trong vụ án còn có bị cáo Lý Thị Thùy L, bị hại anh Lý Hoàng M nhưng không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Thị Thùy L và anh Lý Hoàng M có mối quan hệ quen biết với nhau (L là bạn của chị Nguyễn Thị Cẩm L1 - vợ anh M). Khoảng 11 giờ ngày 17/5/2020, vợ chồng anh M tổ chức tiệc mừng đầy tháng cho con tại phòng trọ ở địa ch phường H, thành phố Biên Hòa, t nh Đồng Nai, t nh Đồng Nai, có mời L và nhiều người khác tham gia. Đến 12 giờ cùng ngày, giữa L và anh Lý Minh C (là anh ruột anh M) có xảy ra mâu thuẫn. Anh C dùng tay tát vào mặt L 03 cái và anh M cầm ly thủy tinh ném vào người L. Sau khi bị đánh, L ra ngoài gọi điện cho Hồ Minh H (bạn trai L) kể lại sự việc bị đánh và kêu H đến hỗ trợ. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 60C2-300.60 đến phòng trọ anh M chửi bới và cầm nón bảo hiểm xông vào phòng trọ định đánh anh M nhưng được mọi người can ngăn nên H điều khiển xe chở L ra về.
Khi H và L về đến khu vực vòng xoay cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, t nh Đồng Nai thì gặp T, T1 (không rõ lai lịch - là bạn của L). H và L kể lại sự việc bị đánh cho T, T1 nghe. Sau đó T gọi thêm Tài (không rõ lai lịch) và 01 đối tượng (không rõ tên, lai lịch) đem theo 01 con dao tự chế (mã tấu) rồi rủ tất cả đi đánh anh M. H điều khiển xe mô tô biển số 60C2-300.60 chở L, còn T, T1, Tài và đối tượng không rõ lai lịch đi trên 02 xe mô tô (không rõ biển số) đến phòng trọ anh M.
Khi đến trước phòng trọ anh M, L nói ai không liên quan tránh ra rồi L, H ch mặt anh M cho T và đồng bọn biết. Anh M thấy vậy liền cầm 02 vỏ chai bia ném về phía nhóm L. T nói “thằng nào đánh con gái tao" rồi cầm 01 con dao tự chế lao vào chém nhiều nhát vào đầu, khuỷu tay và bàn tay trái, cẳng tay và bàn tay phải của anh M, H cầm 02 vỏ chai bia ném vào người, T1, Tài và đối tượng còn lại dùng tay đánh anh M gây thương tích. Sau đó, nhóm L lên xe bỏ đi, còn anh M được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0427/TgT/2020 ngày 02/6/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế t nh Đồng Nai kết luận tỷ lệ thương tích của anh Lý Hoàng M như sau: Tổn thương mẻ có mảnh rời xương lồi cầu ngoài cánh tay trái hiện để lại hạn chế gấp duỗi khuỷu tay trái mức độ từ 05° đến 145°. Sẹo trán phải ngoài chân tóc kích thước 3,5x0,5cm. Sẹo khuỷu tay trái kích thước 5,5x0,3cm. Sẹo mất da đốt xa ngón 1 tay trái kích thước 02x0,6cm. Sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải hình chữ “T” tổng kích thước 7,8x0,5cm. Sẹo ngón 2 bàn tay phải kích thước 01x0,6cm. Sẹo thái dương trái kích thước 2,5x0,3cm. Sẹo chẩm trái kích thước 3,5x0,2cm. Sẹo vùng gáy bên trái (chẩm trái) kích thước 3,5x0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân Lý Hoàng M là: 25% (Hai mươi lăm phần trăm).
Trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Hồ Minh H và Lý Thị Thuỳ L đã bồi thường toàn bộ chi phí điều trị thương tích cho anh Lý Hoàng M số tiền 2.050.000đ (Hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) và bồi thường chi phí khác với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Anh M không yêu cầu bị cáo H, L phải bồi thường thêm và có đơn bãi nại cho L và H.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 420/2021/HS-ST ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa căn cứ điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2 cho bị cáo L) Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
Tuyên bố bị cáo Hồ Minh H, Lý Thị Thùy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Hồ Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Lý Thị Thùy L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2021.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 03/11/2021, bị cáo Hồ Minh H có đơn kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình có công với cách mạng, ông nội là Liệt sỹ.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Luật sư Trần Hữu Nhân trình bày quan điểm như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại căn cứ điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tôi không tranh luận về tội danh, về phía bị hại cũng có một phần lỗi vì đã đánh bạn bị cáo là chị L, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo đang sống với mẹ ruột, sức khỏe mẹ bị cáo yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Quan điểm của Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu. Hành vi của bị cáo H gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo H kháng cáo xin được hưởng án treo, tuy nhiên xét thấy cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Hồ Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại căn cứ điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS và xử phạt bị cáo mức án 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo H làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể: Khoảng 15 giờ, ngày 17/5/2020, bị cáo H, bị cáo Lý Thị Thùy L, cùng các đối tượng tên T, T1, Tài và 01 đối tượng không rõ lai lịch đã đến phòng trọ của anh Lý Hoàng M sử dụng tay, chân, vỏ chai bia, dao để đánh, ném và chém anh Lý Hoàng M gây thương tích, bị cáo H trực tiếp dùng vỏ chai bia ném anh M. Hậu quả anh Lý Hoàng M bị thương tích ở đầu, khuỷu tay trái, bàn tay trái, cẳng tay phải, bàn tay phải, trán phải, tỷ lệ thương tật là 25%.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hồ Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo Hồ Minh H là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo H, bị cáo Lý Thị Thùy L tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giản đơn, không có bàn bạc, thỏa thuận hay phân công nhau để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H trực tiếp gây thương tích cho bị hại nên có mức án cao hơn bị cáo Lý Thị Thùy L. Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo H mức án 02 năm 6 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, không nặng như đơn kháng cáo đã nêu. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ hình phạt nào mới làm cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, do đó, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt.
Đối với các đối tượng T, T1, Tài và 01 đối tượng (không rõ tên, nhân thân, lai lịch) cùng với Hồ Minh H, Lý Thị Thùy L có hành vi gây thương tích cho anh Lý Hoàng M, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục xác minh và xử lý.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
Quan điểm bào chữa của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Minh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 420/2021/HS-ST ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt.
1. Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ, khoản 2, Điều 134; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
Xử phạt: Bị cáo Hồ Minh H 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
2. Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Đồng Nai, - VKSND thành phố Biên Hòa; - TAND thành phố Biên Hòa; - Công an thành phố Biên Hòa; - Phòng PV06, Công an t nh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Bùi Kim Rết |