- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Đình M cùng đồng phạm về tội gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn T, Kha Văn T, Lữ Văn T cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Viêng Văn M phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ lu t hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2022/HS-ST Ngày: 23/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chu Văn B
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Minh S
+ Bà Đỗ Thị Thu H
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị H – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng N - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với:
- Các bị cáo:
1. Vi Đình M, sinh năm: 1999, tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N; Chỗ ở: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Vi Đình K, sinh năm: 1980; Con bà La Thị M, sinh năm: 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.
2. Vi Đình H, sinh năm: 1997, tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N; Chỗ ở: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Vi Đình K, sinh năm: 1980; Con bà La Thị M, sinh năm: 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.
3. Viềng Văn T, sinh năm: 1993, tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N; Chỗ ở: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Viềng Văn D, sinh năm: 1967; Con bà La Thị N (đã chết); Gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2007, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.
4. Viêng Văn M, sinh năm: 1996, tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Bản S, xã T, huyện T, tỉnh N; Chỗ ở: Số 84 V, Phường 5, thành phố Đ, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Viêng Văn S, sinh năm: 1979; Con bà Phan Thị T, sinh năm: 1979; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.
5. Kha Văn T, sinh năm: 1984, tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã L, huyện C, tỉnh N; Chỗ ở: Bản K, xã L, huyện C, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Kha Văn T, sinh năm: 1964; Con bà Vi Thị H, sinh năm: 1964; Vợ: Vi Thị N (đã chết), có 02 người con sinh năm 2007 và 2010.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.
6. Lữ Văn T, sinh năm: 1977, tại Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Bản B, xã L, huyện C, tỉnh N; Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lữ Xuân H, sinh năm: 1944; Con bà Kha Thị C, sinh năm: 1946; Vợ: Lô Thị T, sinh năm: 1974, có 02 người con sinh năm 1996 và 2007.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Anh Viềng Văn T, sinh ngày 11/9/1993;
Địa chỉ: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh N.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phan Thị T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số 84 V, Phường 5, thành phố Đ, tỉnh L.
Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Ông Huỳnh Gia K, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số 44 N, Phường 7, thành phố Đ, tỉnh L.
Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Ông Hồ Xuân L, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số 15/12C đường H, Phường 6, thành phố Đ, tỉnh L.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Đình M và Viêng Văn M có mâu thu n với nhau nên khoảng 19 giờ 30 ngày 01/8/2021, Mạo gọi điện thoại cho anh ruột là Vi Đình Hợp và anh họ là Viềng Văn Thâm để nhờ nói chuyện với May thì Hợp và Thâm đồng ý. Sau đó, Thâm sử dụng xe mô tô Exciter màu xanh biển số 49B1-713.66 chở Hợp về phòng trọ của Mạo ở số 79 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt rồi cùng Mạo đi đến nhà May ở 84 Vạn Thành, Phường 5, thành phố Đà Lạt. Tại đây, cả nhóm thấy May đang ngồi nh u và đốt lửa cùng Lín Văn Hiền và khoảng 5-6 người bạn của Hiền (không rõ họ tên, địa chỉ), ngoài ra còn có bà Phan Thị T (là m May) và Vi Thị Diệp Đang (em gái May) đang ngủ trong nhà, lúc này nhóm của May ném cây về phía nhóm Mạo nên nhóm Mạo bỏ chạy ra ngoài đường. Do bực tức nên Mạo, Hợp và Thâm quay lại nhà May rồi Mạo nhặt một cây gỗ nhỏ (dạng cây cà phê) dài khoảng 80 cm, Hợp nhặt một cục đá hình tròn kích thước 7x7 cm rồi cả hai đ p bể kính cửa s và kính cửa ra vào nhà của May rồi cả nhóm bỏ chạy.
Do bực tức việc nhóm Mạo tới nhà đ p phá tài sản nên May rủ Hiền và bạn của Hiền đi tìm nhóm Mạo để đánh trả thù thì cả nhóm đồng ý, lúc này Kha Văn T (bạn của bà Thiên) gọi điện cho May hỏi sự việc thì May kể lại chuyện nhóm Mạo đ p phá nhà cho Thắng nghe. Một lúc sau, Thắng đi xe mô tô tới nhà May thì May nói Thắng rủ thêm người đi tìm nhóm của Mạo đánh trả thù thì Thắng đồng ý rồi gọi điện thoại rủ Lữ Văn Tình và nói Tình rủ thêm người thì Tình đồng ý.Tình gọi điện thoại rủ Vi Văn Linh, rồi nhờ Linh gọi thêm người thì Linh gọi thêm Nguyễn Văn Tiến, Lại Văn S và 3 đối tượng tên Sơn, Khánh, Thêm (chưa r lai lịch) đi đánh nhau giải quyết mâu thu n giúp May. Sau đó, Tình đi xe mô tô biển số 49T1-5163 tới nhà May, một lúc sau Linh, Tiến, S , Sơn, Khánh, Thêm đi xe taxi tới. Tại đây, May rủ tất cả khoảng 15 người đi tìm nhóm Mạo đánh trả thù thì tất cả đồng ý, trước khi đi có 03 người bạn của Hiền cầm theo 03 cây gỗ, Linh cầm theo một con dao rựa, S cầm theo một con dao, khi đi May đi chung xe mô tô với một người bạn của Hiền, Thắng đi chung xe máy với một người trong nhóm (không quen biết), Tình đi một mình b ng xe mô tô biển số 49T1-5163, những người còn lại đi xe mô tô (không r biển số) và xe taxi Lado biển số 49E-002.73 do tài xế là Hồ Xuân Long điều khiển cùng đi tới nhà Mạo nhưng không thấy Mạo nên May gọi điện thoại cho Mạo h n ra ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt đánh nhau giải quyết mâu thu n thì Mạo đồng ý. Sau khi h n nhóm của Mạo thì nhóm của May đi tới ngã 3 Kim Thạch chuẩn bị đá, g y và dao rồi đứng đợi nhóm Mạo đến đánh nhau.
Sau khi đồng ý tới ngã ba Kim Thạch gặp May đánh nhau thì Mạo rủ Hợp và Thâm đi cùng thì cả hai đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Thâm sử dụng xe mô tô Exciter màu xanh biển số 49B1-713.66 chở Mạo và Hợp đến gần ngã 3 Kim Thạch thì dừng lại rồi Mạo nhặt ở ven đường một cây gỗ (dạng cây cà phê) dài khoảng 80 cm và một cây tre dài khoảng 80cm, còn Hợp cầm theo một cây g y ba trắc b ng kim loại, tròn, khi d ra dài khoảng 60cm, để trong áo khoác. Khi đến nơi thấy nhóm May có khoảng 15 người nên Mạo đưa cho Thâm cây gỗ, hợp cầm cây g y ba trắc còn Mạo cầm cây tre để đánh nhau thì bị nhóm người bên May ném đá nên Mạo, Hợp và Thâm bỏ chạy để lại xe mô tô biển kiểm soát số: 49B1-713.66. Nhóm của May rượt đu i nhóm của Mạo đến giữa dốc Tùng Lâm thì quay lại, thấy chiếc xe mô tô của Thâm để lại nên May nhặt một cây tre dài khoảng 60 cm ở ven đường đ p một cái bể phần yếm xe bên trái khiến cây tre bị gãy, May tiếp tục nhặt một cục đá kích thước 15x15cm ném bể đ n, ốp nhựa phía đầu xe rồi tiếp tục nhặt cục đá kích thước 15x15cm ném bể ốp nhựa sườn xe bên trái. Sau đó có khoảng 4-5 người trong nhóm May quay lại dùng dao và g y đ p phá chiếc xe này hư hỏng rồi cả nhóm bỏ đi.
ị hại:
1. Viềng Văn Thâm bị đ p phá hư hỏng nhiều bộ ph n chiếc xe mô tô Exciter màu xanh biển số 49B1-713.66. Theo kết lu n định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định giá trị tài sản bị hư hỏng là 11.290.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra, Vi Đình Mạo đã tự nguyện sửa chữa chiếc xe mô tô cho Viềng Văn Thâm, Thâm không yêu cầu gì khác.
2. Bà Phan Thị Thiên, sinh năm: 1979, HKTT: 84 Vạn Thành, Phường 5, thành phố Đà Lạt, bị đ p phá 01 tấm kính cửa ra vào kích thước 60cm x 1m loại 3 ly và 01 tấm kính cửa s kích thước 40 x 60 cm loại 3 ly . Theo kết lu n định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định giá trị tài sản bị hư hỏng là 190.000 đồng. Hiện nay bà Thiên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Vật ch ng thu gi :
- 01 dao m i nhọn, cán b ng nhựa màu trắng, dài 60cm; 01 dao tự chế m i tù, cán b ng nhựa, dài 60cm; 01 dao lư i b ng sắt cán màu đen, dài 30cm; 01 g y bóng chày b ng kim loại màu xám đen dài 68cm; 01 (một) viên gạch; 01 CMND số 187992316 mang tên Viềng Văn Thâm; 01 CMND số 187770320 mang tên Vi Đình Mạo; 01 điện thoại di động Oppo A5S màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo A5 màu xám đen gắn sim số 0866404831 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung Galaxy A21S màu xanh đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung màu đen loại cảm ứng màn hình có nhiều vết rạn nứt đã qua sử dụng;
- 01 USB màu xanh xám bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại sự việc gây rối, đ p phá tài sản tại ngã ba Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt;
- 01 đĩa CD màu trắng có lưu trữ Phụ lục số: 1414/GĐ-PC09 mô tả diễn biến vụ việc gây rối tr t tự công cộng xảy ra ngày 01/8/2021 tại ngã ba Kim Thạch, Phường 7, TP Đà Lạt, Lâm Đồng.
- 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter màu xanh biển số 49B1-713.66 bị hư hỏng; 01 giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô mang tên Huỳnh Gia Khánh BKS 49B1-713.66. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của Viềng Văn Thâm, do Thâm không có hộ khẩu tại địa phương nên đã nhờ anh Huỳnh Gia Khánh đứng tên hộ. Hiện nay, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã ra Quyết định xử lý đồ v t, tài liệu trả lại chiếc xe trên cho Viềng Văn T;
Tại bản cáo trạng số 140/CT-VKSĐL-LĐ ngày 01/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố các bị cáo Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn T, Kha Văn T, Lữ Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ lu t hình sự; truy tố bị cáo Viêng Văn M về các tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ lu t hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ lu t hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nh n đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố :
+ Các bị cáo Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn T, Kha Văn T, Lữ Văn T cùng phạm tội “Gây rối tr t tự công cộng”;
+ Bị cáo Viêng Văn M phạm các tội “Gây rối tr t tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ lu t hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Vi Đình M mức hình phạt từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Vi Đình H mức hình phạt từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Viềng Văn T mức hình phạt từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Kha Văn T mức hình phạt từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù;
+ Xử phạt bị cáo Lữ Văn T mức hình phạt từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù;
+ Xử phạt bị cáo Viêng Văn M mức hình phạt từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 178; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự: Xử phạt bị cáo Viêng Văn M mức hình phạt từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 55 Bộ lu t hình sự: T ng hợp hình phạt, buộc bị cáo Viêng Văn M phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Người bị hại Viềng Văn T không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng không có yêu cầu gì;
Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Các bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nh n thức, các bị cáo biết rất r việc đu i đánh nhau gây náo động, hò hét, phá phách, hành hung người khác… làm ảnh hưởng đến tình hình quản lý tr t tự, trị an tại nơi công cộng là hành vi vi phạm pháp lu t nhưng v n cố ý thực hiện.
Xuất phát từ mâu thu n cá nhân giữa Vi Đình M và Viêng Văn M nên bu i tối ngày 01/8/2021, May gọi điện thoại cho Mạo h n ra ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt đánh nhau giải quyết mâu thu n thì Mạo c ng đồng ý. Sau khi h n đánh nhau với Mạo thì May nói Kha Văn T rủ thêm người đi tìm nhóm của Mạo đánh nhau, Thắng gọi điện thoại rủ Lữ Văn Tình và nói Tình rủ thêm người, Tình gọi điện thoại rủ Vi Văn Linh, rồi nhờ Linh gọi thêm người thì Linh gọi thêm Nguyễn Văn Tiến, Lại Văn S và 3 đối tượng tên Sơn, Khánh, Thêm (chưa r lai lịch) đi đánh nhau với nhóm của Mạo. Về phía Vi Đình M thì sau khi h n đánh nhau với May, Mạo rủ thêm Vi Đình H và Viềng Văn T cùng chuẩn bị hung khí đi đánh nhau với nhóm của May.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, tại khu vực ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt, nhóm của Vi Văn May và nhóm của Vi Đình M sử dụng hung khí là dao, g y đá đu i đánh nhau gây ồn ào, náo loạn tại địa bàn. Khi Mạo, Hợp và Thâm bỏ chạy để lại xe mô tô của Thâm mang biển kiểm soát số: 49B1-713.66 thì May nhặt một cây tre dài khoảng 60 cm ở ven đường đ p một cái bể phần yếm xe bên trái khiến cây tre bị gãy, May tiếp tục nhặt một cục đá kích thước 15x15cm ném bể đ n, ốp nhựa phía đầu xe rồi tiếp tục nhặt cục đá kích thước 15x15cm ném bể ốp nhựa sườn xe bên trái. Sau đó cả nhóm bỏ đi.
Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Đà Lạt có báo cáo số 164/BC-UBND ngày 02/8/2021, thể hiện nội dung: “...Vào khoảng 23 giờ ngày 01/8/2021, tại khu vực ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt xảy ra sự việc gây gổ, đánh nhau giữa hai nhóm thanh niên………hành vi đuổi đánh, chém và đập phá tài sản của 02 nhóm thanh niên trên làm cho người dân hoang mang lo sợ…..”.
Tại kết lu n định giá tài sản số 171/KL-ĐG ngày 08/9/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt xác định: Giá trị thiệt hại của xe Yamaha Exciter biển kiểm soát số 49B1-713.66 là 11.290.000 đồng.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ xem thường pháp lu t, dùng hung khí đu i đánh nhau, đ p phá tài sản gây náo loạn trên đường phố là nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, tr t tự, an toàn xã hội.
Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, v t chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu th p trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết lu n hành vi của các bị cáo Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn T, Kha Văn T, Lữ Văn T cùng phạm tội “Gây rối tr t tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ lu t hình sự; hành vi của bị cáo Viêng Văn M phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ lu t hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ lu t hình sự.
Đối với hành vi của Vi Đình Mạo và Vi Đình Hợp đ p phá làm hư hỏng 02 tấm kính cửa của bà Phan Thị Thiên, do giá trị tài sản bị hư hỏng dưới 2.000.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Mạo và Hợp về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”.
Đối với các bị can Vi Văn Linh, Lại Văn S và Nguyễn Văn Tiến sau khi bị khởi tố đã bỏ trốn, hiện nay Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can; Tạm đình chỉ điều tra bị can và ra Quyết định truy nã đối với Linh, S và Tiến, khi nào bắt được s xử lý theo quy định của pháp lu t.
Đối với đối tượng tên Lín Văn Hiền và các đối tượng được Hiền, Linh, S rủ tới để đánh nhau với nhóm của Mạo. Hiện nay Cơ quan điều tra chưa làm việc được với các đối tượng này nên tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ s xử lý theo quy định của pháp lu t.
Đối với anh Hồ Xuân Long là tài xế taxi đã chở các bị cáo tới khu vực ngã ba Kim Thạch, phường 7, thành phố Đà Lạt. Quá trình điều tra xác định anh Long không biết về việc các bị cáo đi đánh nhau từ trước và không tham gia vào việc đánh nhau, gây rối nên không có căn cứ để xử lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Các bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Khi quyết định hình phạt có xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự.
Bị cáo Viêng Văn M đã nhờ Vi Đình M sửa chữa chiếc xe mô tô bị hư hỏng nên áp dụng cho bị cáo May được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự (đối với tội cố ý làm hư hỏng tài sản).
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Vi Đình M và Viêng Văn M cùng là người chủ động rủ rê các bị cáo khác tham gia việc đánh nhau, gây rối nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò cao nhất trong vụ án.
Đối với sự tham gia gây rối tr t tự công cộng của các bị cáo Vi Đình H, Viềng Văn T, Kha Văn T, Lữ Văn T là tương đương như nhau và có vai trò thấp hơn các bị cáo Mạo, May trong vụ án.
Xét tính chất của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện có tính chất hung hãn, coi thường pháp lu t nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Đối với bị cáo Viêng Văn M phạm nhiều tội trong cùng vụ án nên quyết định hình phạt riêng với từng tội và t ng hợp hình phạt chung theo quy định.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có phần quá nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt đối với các bị cáo dưới mức mà đại diện Viện Kiểm sát đã đề nghị.
Về xử lý v t chứng:
Đối với 01 (một) dao m i nhọn, cán b ng nhựa màu trắng, dài 60cm; 01 (một) dao tự chế m i tù, cán b ng nhựa, dài 60cm; 01 (một) dao lư i b ng sắt cán màu đen, dài 30cm; 01 (một) g y bóng chày b ng kim loại màu xám đen dài 68cm; 01 (một) viên gạch: Các v t chứng này đều là hung khí các bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chứng minh nhân dân số 187992316 mang tên Viềng Văn Thâm; 01 (một) giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô biển kiểm soát số 49B1-713.66 mang tên Huỳnh Gia K; 01 (một) chứng minh nhân dân số 187770320 mang tên Vi Đình Mạo: Đây là giấy tờ hợp pháp của các bị cáo Viềng Văn T và Vi Đình M nên tuyên trả cho các bị cáo.
Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo A5S màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo A5 màu xám đen gắn sim số 0866404831 đã qua sử dụng: Đây là những điện thoại thu giữ của bị cáo Vi Đình M và Viêng Văn M, các bị cáo đã sử dụng để gọi người khác tham gia đánh nhau gây rối nên tuyên tịch thu sung qu nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A21S màu xanh đen đã qua sử dụng thu giữ của Vi Đình H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả cho bị cáo Hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại Samsung màu đen loại cảm ứng màn hình có nhiều vết rạn nứt đã qua sử dụng thu giữ của Vi Văn Linh, quá trình điều tra Vi Văn Linh đã bỏ trốn, tuyên giao lại chiếc điện thoại này cho cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra làm r và xử lý theo quy định khi xử lý trách nhiệm hình sự của Vi Văn Linh.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Các bị cáo Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn T, Kha Văn T, Lữ Văn T cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Viêng Văn M phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ lu t hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ lu t hình sự.
- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Vi Đình M 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Viêng Văn M 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Vi Đình H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Viềng Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Kha Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Lữ Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2022.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 178; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự: Xử phạt bị cáo Viêng Văn M 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 55 Bộ lu t hình sự, t ng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Viêng Văn M phải chịu hình phạt chung cho cả 02 tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2022.
[2] Xử lý v t chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ lu t hình sự và Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung qu nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Oppo A5S màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo A5 màu xám đen gắn sim số 0866404831 đã qua sử dụng.
- Trả cho bị cáo Vi Đình M 01 (một) chứng minh nhân dân số 187770320 mang tên Vi Đình Mạo; Trả cho bị cáo Vi Đình H 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A21S màu xanh đen; Trả cho bị cáo Viềng Văn T 01 (một) chứng minh nhân dân số 187992316 mang tên Viềng Văn Thâm; 01 (một) giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô biển kiểm soát số 49B1-713.66 mang tên Huỳnh Gia K.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao m i nhọn, cán b ng nhựa màu trắng, dài 60cm; 01 (một) dao tự chế m i tù, cán b ng nhựa, dài 60cm; 01 (một) dao lư i b ng sắt cán màu đen, dài 30cm; 01 (một) g y bóng chày b ng kim loại màu xám đen dài 68cm; 01 (một) viên gạch.
- Giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt 01 (một) điện thoại Samsung màu đen loại cảm ứng màn hình có nhiều vết rạn nứt đã qua sử dụng thu giữ của Vi Văn Linh để tiếp tục tạm giữ và xử lý khi giải quyết vụ án hình sự đối với Vi Văn Linh.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2022 giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nh n được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành phố Đà Lạt; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Công an thành phố Đà Lạt; - Chi cục Thi hành án thành phố Đà Lạt; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ ph n theo d i thi hành án phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Chu Văn |