vanban.org

Bản án 151/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L đối với anh Nguyễn Huy T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Huy T (Giấy chứng nhận kết hôn số số 11/2019, ngày 11/02/2019 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh H cấp). Về con chung: Anh Nguyễn Huy T giao con chung là Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/11/2021 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Huy T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L đối với anh Nguyễn Huy T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2022/HNGĐ-ST
Ngày 24-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chu Thị Thanh Thủy;

2. Ông Bùi Thế Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 237/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989; thường trú: xã H, huyện H1, tỉnh H2; địa chỉ: 62/41, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1982; thường trú: xã T, huyện T1, tỉnh H; địa chỉ: 62/41, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 4 năm 2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Nguyễn Huy T tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn năm 2019 tại UBND xã T, huyện T1, tỉnh H. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại địa chỉ 62/41 đường N, khu phố N, phường D, thành phố D1, tỉnh B. Vợ chồng chung sống một thời gian thì mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, không hòa hợp trong cuộc sống, chị L có con riêng nên anh T hay chửi bới, uống rượu say về gây áp lực trong gia đình, vợ chồng cãi vã và anh T có đánh chị một số lần. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/11/2021, hiện đang sống với hai vợ chồng. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị L hiện làm nghề tóc, thu nhập khoảng 12 triệu đồng/ tháng. Anh T làm nghề tự do, nhận thầu cho các công trình, thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Huy T: Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ anh T để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa vào ngày 04/8/2022, 24/8/2022 nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Anh T không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

- Kết quả xác minh ngày 08/6/2022 tại Hội liên hiệp phụ nữ phường Dĩ An thể hiện: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn vợ chồng, vấn đề nuôi dạy con chung của hai anh chị. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Huy T tham gia phiên tòa vào ngày 04/8/2022 và ngày 24/8/2022 nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Huy T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh H và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2019, ngày 11/02/2019 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị L trình bày lý do xin ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không thể hòa giải được; anh T có hành vi bạo lực gia đình. Qúa trình tố tụng, Tòa án triệu tập anh T đến Tòa án để cung cấp bản tự khai, trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản bác đối với trình bày của chị L. Chị L cũng có đơn từ chối hòa giải. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh T đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn tình cảm để tiếp tục cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Việc anh T có hành vi bạo lực gia đình là vi phạm nghiêm trọng các quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 56 Luâ ̣t Hôn nhân và gia đinh năm 2014.

̀

Về con chung: Chị L khai vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/11/2021, hiện nay con đang ở với hai vợ chồng. Qúa trình tố tụng anh T không có ý kiến, yêu cầu gì đối với việc nuôi dưỡng con chung. Việc chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là tự nguyện, bảo đảm cháu có môi trường sống, học tập ổn định; cháu là con gái cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ. Do đó giao con chung cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình về trách nhiệm cấp dưỡng cho con của người cha/mẹ không trực tiếp nuôi con và phù hợp với chi phí nuôi con trung bình tại địa phương nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn, anh Nguyễn Huy T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các điều 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L đối với anh Nguyễn Huy T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Huy T (Giấy chứng nhận kết hôn số số 11/2019, ngày 11/02/2019 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh H cấp).

- Về con chung: Anh Nguyễn Huy T giao con chung là Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 22/11/2021 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Huy T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng. Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Huy T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Nguyễn Huy T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng anh Nguyễn Huy T phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghin) đồng án phi ly hôn, được khấu trừ vào tiền ta ̣m ứ ng án phi chị L đa ̃

̀

́

́ nô ̣p theo biên lai số 0003676 ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An , tỉnh Bình Dương. Anh Nguyễn Huy T phải chịu 300.000 (ba trăm nghin) đồng án phi cấp dưỡng nuôi con.

̀

́

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ