vanban.org

Bản án 151/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Lan H, xử cho chị H được ly hôn anh Hồ Mạnh Đ. Về con chung: Giao cháu Hồ Phước H, sinh ngày 24/10/2017 cho chị Hoàng Thị Lan H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2022.
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đức Chung.

Ông Phạm Văn Huynh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 587/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Lan H, sinh năm 1994.

- Bị đơn: Anh Hồ Mạnh Đ, sinh năm 1986.

Cùng địa chỉ: Tổ 21, ấp Phước H, xã Long P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị H, anh Đ vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Lan H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Mạnh Đ xây dựng gia đình với nhau năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Phước, huyện Long Thành, hiện tại cuộc sống hôn nhân không đạt được mục đích, vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, thiếu tôn trọng, chia sẻ với nhau, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tin tưởng nhau, nghi ngờ ghen tuông. Chị và anh Đ đã không còn sống chung gần hai năm nay, chị dọn ra ở riêng khoảng 3 tháng. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung Hồ Phước H, sinh ngày 24/10/2017. Chị yêu cầu được nuôi cháu H, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có;

Chị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 23 tháng 8 năm 2022 anh Hồ Mạnh Đ trình bày:

Anh và chị H kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Long Phước, huyện Long Thành, do trong thời gian sinh sống, hai vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn nên chị H xin ly hôn. Mâu thuẫn do áp lực về kinh tế nên cãi nhau, lớn tiếng và có lúc xúc phạm nhau trong khi tranh cãi, giảm lòng tin với nhau trong các mối quan hệ nên thời gian 01 năm nay nhiều lần cãi nhau. Chị H xin ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Phước H, sinh ngày 24/10/2017, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Tài sản chung: Anh và chị H tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Lan H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về sự có mặt và vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Lan H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H. Bị đơn anh Hồ Mạnh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Đ.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Hồ Mạnh có nơi cư trú tại xã Long Phước , huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, chị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đ. Đây là tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống, chị H xin ly hôn, anh Đ không đồng ý

Chị H khai vợ chồng đã không còn quan tâm đến nhau khoảng gần hai năm nay, anh Đ khai do áp lực về kinh tế nên cãi nhau, lớn tiếng và có lúc xúc phạm nhau trong khi tranh cãi, giảm lòng tin với nhau trong các mối quan hệ nên thời gian 01 năm nay nhiều lần cãi nhau. Ngày 19/9/2022, chị H và anh Đ có văn bản thỏa thuận ly hôn, nuôi con chung. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Lan H, xử cho chị H được ly hôn anh Hồ Mạnh Đ.

Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung Hồ Phước H, sinh ngày 24/10/2017.

Chị H và anh Đ có văn bản thỏa thuận ngày 19/9/2022, chị H nuôi dưỡng cháu H. Vì vậy, giao cháu H cho chị H nuôi dưỡng là có cơ sở chấp nhận.

Chị H nuôi con không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nên không xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát huyện Long Thành phù hợp chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về Án phí: Chị Hoàng Thị Lan H pH chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 277, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Lan H, xử cho chị H được ly hôn anh Hồ Mạnh Đ.

Về con chung: Giao cháu Hồ Phước H, sinh ngày 24/10/2017 cho chị Hoàng Thị Lan H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời anh Hồ Mạnh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị Lan H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0005967 ngày 05/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị H đã nộp đủ án phí.

3. Chị Hoàng Thị Lan H và anh Hồ Mạnh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của páp luật.

Cỡ chữ