- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Minh H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2021/HSPT Ngày: 06-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thông;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thanh Long;
Ông Nguyễn Tấn Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thành, Kiểm sát viên.
Vào ngày 06 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 180/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 2 năm 2021 đối với ị cáo Dương Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của các bị hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 56/2020/HS-ST ngày 25-12-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 954/2021/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021.
- Bị cáo có kháng cáo:
Dư ng Minh H, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1957 tại tỉnh Quảng Bình; N i ĐKHKTT và chổ ở: xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dư ng Văn L (chết) và bà Phạm Thị Đ (chết); vợ: Trần Thị H; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh 2006; tiền sự: Không; tiền án: Kh ng; nhân thân: Sinh ra ở với ố mẹ tại tỉnh Quảng Bình, học hết lớp 10/10. Sau đó đi học T cấp ngành c kh từ năm 1976 đến 1977. Cuối năm 1977 c ng tác tại C ng ty vận tải X rồi nhập ngũ quân đội tại Sư 968 đóng tại Lào từ năm 1982 đến 1986 thì xuất ngũ trở lại đ n vị làm việc, năm 1989 nghĩ chế độ 176. Năm 2000 thành lập C ng ty TNHH xây dựng tổng hợp N đến năm 2011 c ng ty làm ăn thua lỗ, phá sản ngừng hoạt động. Ngày 19/5/2020 ị khởi tố về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ị ắt tạm giam ngày 20/5/2020 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C ng an tỉnh Quảng Bình, có m t.
Người bào chữa cho bị cáo Dương Minh H:
Ông Trư ng Thanh T và à Phạm Thị Huyền T, Luật sư – Công ty
Luật trách nhiệm hữu hạn Đ, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Bình; có m t.
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Quang L, sinh năm 1969; địa chỉ: tỉnh Quảng Bình; vắng
m t.
- Ông Trần N, sinh năm 1950; địa chỉ: thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;
vắng m t.
- Ông Bàn Văn S, sinh năm 1962; địa chỉ: tỉnh Quảng Bình; vắng m t.
- Bà Đinh Thị Thanh P, sinh năm 1972; địa chỉ: tỉnh Quảng Bình; có
m t.
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1966; địa chỉ: tỉnh Quảng Trị; vắng m t.
- Bà Đinh Thị Bích T, sinh năm 1958; địa chỉ: tỉnh Quảng Bình; vắng
m t.
- Ông Đinh Hữu D, sinh năm 1959; địa chỉ:tỉnh Quảng Bình; có m t.
- Ông Nguyễn Thọ T, sinh năm 1955; địa chỉ: tỉnh Quảng Bình; vắng
m t.
- Anh Trần Văn C, sinh năm 1993; địa chỉ: tỉnh Thanh Hóa; vắng m t.
- Chị Phan Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: tỉnh Quảng Trị. vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài i u có trong hồ sơ v án và di n biến tại phiên toà nội dung v án được tóm tắt như sau:
Dư ng Minh H không có chức năng ố trí, tuyển dụng người vào làm việc tại các C quan Nhà nước nhưng vẫn đưa ra th ng tin gian dối, có mối quan hệ rộng và có khả năng xin được việc làm tại các Sở, Ban ngành trong tỉnh. H ra giá cụ thể của từng ngành, nghề làm cho những người có nhu cầu việc làm tin tưởng giao tiền. Bằng thủ đoạn trên, từ năm 2013 đến năm 2018 Dư ng Minh H đã nhận và chiếm đoạt của 10 người bị hại trú tại các địa bàn thuộc tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị với tổng số tiền là 1.479.000.000đồng (Một tỷ bốn trăm bảy mươi chín tri u đồng). Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 09/2013, anh Nguyễn Quang L, sinh năm
1969, trú tại tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho con gái là Nguyễn Thị Hoài N, sinh năm 1991, tốt nghiệp chuyên ngành sư phạm anh văn, trường Đại học sư phạm H nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Dư ng Minh H đã đưa ra th ng tin gian dối là có mối quan hệ rộng và hứa hẹn sẽ xin được việc cho con gái anh L vào dạy tại Trường THPT N, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tháng 9/2013 anh L giao cho Dư ng Minh H với số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mư i triệu đồng). Sau khi nhận tiền H không thực hiện xin việc cho Hoài N mà chiến đoạt chi tiêu cá nhân.
Dư ng Minh H đã trả lại số tiền 82.500.000đồng cho anh L.
Lần thứ hai: Khoảng tháng 10/2013, anh Trần N, sinh năm 1950, trú tại Thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho cháu nội là Trần Thị Thu H, sinh năm 1992, tốt nghiệp trường T cấp y Đà Nẵng nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Tư ng tự như lần thứ nhất H đã đưa ra th ng tin gian dối sẽ xin được việc làm cho cháu H vào làm việc ch nh thức tại Bệnh viện Hữu nghị X Đ. Khoảng tháng 10/2013 ng N giao cho Dư ng Minh H hai lần với số tiền 60.000.000đ (Sáu mư i triệu đồng). Sau khi nhận tiền H kh ng thực hiện xin việc cho Thu H mà chiếm đoạt chi tiêu vào mục đ ch cá nhân.
Dư ng Minh H đã trả lại cho ng Trần N số tiền 40.000.000đồng
Lần thứ ba: Cuối năm 2013, anh Bàn Văn S, sinh năm 1962, trú tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho con gái là Bàn Thị N, sinh năm 1990, tốt nghiệp chuyên ngành sư phạm Sử, trường Đại học sư phạm H, nên đã nhờ anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1959, đăng ký HKTT: tỉnh Quảng Bình dẫn đi g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. H cũng đưa ra th ng tin gian dối sẽ xin được việc cho con gái anh S vào làm việc iên chế ch nh thức tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Bình. Khoảng cuối năm 2013 anh S giao cho Dư ng Minh H 02 lần với tổng số tiền 80.000.000đồng (tám mư i triệu đồng). H đã chiếm đoạt số tiền trên. Ngày 06/9/2020 đại diện gia đình ị can Dư ng Minh H là chị Lưu Vân K, sinh năm 1974, trú tại th n 4 Lộc Đại, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình đã trả cho anh Bàn Văn S số tiền 5.000.000đồng.
Lần thứ tư: Khoảng tháng 03/2014, anh Nguyễn Thọ T, sinh năm 1955, trú tại huyện Q, tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho hai cháu họ là Võ Văn T, sinh năm 1989 và Võ Như N, sinh năm 1992 nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Dư ng Minh H đã đưa ra th ng tin gian dối và hứa hẹn sẽ xin được việc cho hai cháu của anh T vào làm việc iên chế ch nh thức tại trường trung học phổ th ng N, huyện Q. Nên ngày 05/3/2014 anh T giao cho Dư ng Minh H 100.000.000đồng. H đã chiếm đoạt số tiền này.
Lần thứ năm: Tháng 06/2014, chị Đinh Thị Thanh P, sinh năm 1972, trú tại tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho con gái là Đinh Thị M P, sinh năm 1992, nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Dư ng Minh H đã đưa ra th ng tin sẽ xin được việc cho con gái chị P vào làm việc tại Bệnh viện Đa khoa M. Ngày 13/6/2014 cho đến 30/8/2014 chị P đã giao cho Dư ng Minh H 173.000.000đồng (một trăm ảy mư i a triệu đồng). Sau khi nhận tiền H đã chiếm đoạt. Ngày 06/9/2020 đại diện gia đình ị can Dư ng Minh H là chị Lưu Vân K đã trả cho chị Đinh Thị M P con gái chị P số tiền 12.000.000đồng.
Lần thứ sáu: Khoảng tháng 09/2014, chị Lê Thị M, sinh năm 1966, trú
tại tỉnh Quảng Trị có nhu cầu xin việc cho con trai là Nguyễn T D, sinh năm 1992, tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán, kiểm toán trường Đại học D, Thành phố Đà Nẵng nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Dư ng Minh H đã đưa ra th ng tin gian dối xin được việc cho con trai chị M vào làm việc iên chế ch nh thức tại Sở C ng Thư ng tỉnh Quảng Bình. Ngày 11/7/2014 đến ngày 16/12/2014 chi M giao cho Dư ng Minh H với tổng số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng). Sau khi nhận tiền H chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Dư ng Minh H đã trả lại cho chị M số tiền 80.000.000 đồng.
Lần thứ bảy: Ngày 03/10/2014, chị Đinh Thị Bích T, sinh năm 1958,
trú tại tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho con trai là Trư ng Quang T, sinh năm 1989, tốt nghiệp trường T cấp y Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để nhờ xin việc. Dư ng Minh H đã đưa ra th ng tin gian dối sẽ xin được việc cho con trai chị T vào làm việc iên chế ch nh thức tại Bệnh viện Hữu nghị X Đ. Ngày 01/10/2014 đến 28/01/2015 chi T giao cho Dư ng Minh H với tổng số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mư i triệu đồng. Sau khi nhận tiền H chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Ngày 06/9/2020 đại diện gia đình ị can Dư ng Minh H là chị Lưu Vân K đã trả cho Đinh Thị Bích T số tiền 8.000.000 đồng .
Lần thứ tám: Ngày 05/10/2014, anh Đinh Hữu D, sinh năm 1959, trú tại
, tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin việc cho con dâu là Lê Hoài T, sinh năm 1993, tốt nghiệp trường T cấp y Quảng Bình, nên đã liên hệ với Dư ng Minh H và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Dư ng Minh H đưa ra th ng tin gian dối sẽ xin được việc cho con dâu anh D vào làm việc iên chế ch nh thức tại Bệnh viện Đa khoa B. Ngày 06/10/2014 anh D giao cho Dư ng Minh H 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng). Sau khi nhận tiền H chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Ngày 06/9/2020 đại diện gia đình ị can Dư ng Minh H là chị Lưu Vân K, đã trả cho anh Đinh Hữu D số tiền 7.000.000đồng.
Lần thứ chín: Khoảng 01/2015, chị Phan Thị T, sinh năm 1991, trú tại
tỉnh Quảng Trị có nhu cầu xin việc cho bản thân nên đã liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề xin việc. Dư ng Minh H hứa hẹn sẽ xin được việc cho chị T vào làm việc tại Tập đoàn T (Trạm thu phí BOT T, tỉnh Quảng Trị). Từ ngày 23/01/2015 đến 25/5/2015 chị Thủy giao cho Dư ng Minh H với tổng số tiền 160.000.000đồng (một trăm sáu mư i triệu đồng). Sau khi nhận tiền H kh ng thực hiện xin việc cho T mà chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Cuối năm 2015 H đã trả lại cho T 40.000.000đồng.
Lần thứ mười: Năm 2018, anh Trần Văn C, sinh năm 1993, trú tại tỉnh Thanh Hóa đang là chiến sỹ nghĩa vụ thuộc T đoàn Cảnh sát c động Bắc T Bộ (E26) - K02 nhập ngũ tháng 09/2015, đóng quân tại tỉnh Quảng Bình có nhu cầu xin ở lại chuyên nghiệp trong lực lượng C ng an, nên đã nhờ anh Đ ng N T, sinh năm 1959, trú tại huyện QT dẫn đến liên hệ và g p H tại nhà ở để đ t vấn đề giúp. Dư ng Minh H đã đưa ra th ng tin gian dối sẽ xin cho anh C được xét ở lại chuyên nghiệp trong lực lượng C ng an nhân dân với giá 500.000.000 đồng. Từ ngày 07/9/2018 cho đến 29/10/2018 anh C đã nhiều lần giao tiền cho Dư ng Minh H với tổng số tiền 266.000.000 đồng( ằng hai hình thức sử dụng Internet anking chuyển khoản và giao tiền m t). Sau khi nhận tiền H đã chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Từ tháng 01/2020 cho đến ngày 20/8/2020 đại diện gia đình ị can Dư ng Minh H là chị Dư ng Thị Mỹ L và Lưu Vân K, trú tại xã L, TP Đ, tỉnh Quảng Bình đã trả cho Trần Văn C với tổng số tiền 60.000.000 đồng.
Tổng số tiền Dư ng Minh H đã chiếm đoạt 1.479.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm bảy mươi chính tri u đồng chẳn). Quá trình điều tra đại diện gia đình của Dư ng Minh H là à Lưu Vân K và Dư ng Thị Mỹ L đã trả lại cho một số bị hại 334.500.000 đồng (Ba trăm ba bôn tri u năm trăm nghìn đồng); hiện còn 1.144.500.000đồng (một tỷ một trăm bốn mươi bốn tri u năm trăm nghìn đồng) chưa trả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2020/HS-ST ngày 25/12/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s, b, t, v khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U an thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án ph và lệ ph Toà án.
1. Tuyên ố: Bị cáo Dư ng Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Dư ng Minh H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày 20 tháng 5 năm 2020. Miễn áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền đối với ị cáo Dư ng Minh H.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/01/2021 các bị hại Đinh Hữu D, Đinh Thị Thanh P, Đinh Thị
Bích T, Bàn Văn S kháng cáo đề nghị tăng n ng hình phạt cho bị cáo Dư ng Minh H.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:
Các bị hại Đinh Hữu D, Đinh Thị Thanh P vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo; bị hại Dư ng Minh H, Đinh Thị Bích T và Bàn Văn S vắng m t.
Ý kiến của các bị hại: Toà án cấp s thẩm xử phạt ị cáo H 08 năm tù
là quá nhẹ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tăng hình phạt cho ị cáo.
Ý kiến của bị cáo Dương Minh H: Toà án cấp s thẩm xử phạt ị cáo 08
năm tù là phù hợp, kh ng nhẹ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử kh ng chấp nhận kháng cáo của các ị hại, giữ nguyên ản án s thẩm.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại di n cho Vi n kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Đà Nẵng: Về hành vi phạm tội và tội danh của các ị cáo đã rõ. Toà án cấp s thẩm xử phạt ị cáo Dư ng Minh H 08 năm tù là phù hợp, kh ng nhẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ác kháng cáo của các ị hại, giữ nguyên ản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung v án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ v án đã
được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, vắng m t 03 bị hại
Dư ng Minh H, Đinh Thị Bích T và Bàn Văn S kh ng có lý do. Các đư ng sự và kiểm sát viên đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, các đư ng sự vắng m t nhưng kh ng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và cũng kh ng ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo qui định pháp luật.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Dư ng Minh
H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; do đó, có đủ căn cứ để kết luận: M c dù, ị cáo kh ng có chức năng tuyển dụng lao động vào làm việc tại các c quan Nhà nước, doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Bình, nhưng do trước đây ị cáo có thời gian làm Giám đốc c ng ty trách nhiệm hữu hạn N (C ng ty làm ăn thua lỗ và đã phá sản năm 2011) có quan hệ với nhiều người nên ị cáo đã đưa ra các th ng tin kh ng đúng sự thật để các ị hại tin tưởng giao tiền cho ị cáo. Từ năm 2013 đến năm 2018 cùng một thủ đoạn hứa xin được việc làm trong c quan Nhà nước, doanh nghiệp cho con, cháu các ị hại, ị cáo đã nhận và chiếm đoạt tổng số tiền 1.479.000.000 đồng để sử dụng vào mục đ ch cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các c quan tố tụng và Toà án cấp s thẩm đã truy tố và xét xử ị cáo Dư ng Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi ổ sung năm 2017 để đảm ảo nguyên tắc có lợi cho ị cáo là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.
Xét t nh chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Dư ng Minh H là người có thể chất phát triển ình thường, không bị các bệnh lý về tâm thần, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt mức án rất nghiêm khắc nhưng ị cáo vẫn xem thường pháp luật, có hành vi gian dối, đưa ra các th ng tin kh ng đúng sự thật để lừa đảo chiếm đoạt của mười người bị hại với số tiền 1.479.000.000 đồng, làm cho các ị hại lâm vào hoàn cảnh khó khăn về kinh tế. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, trừng trị riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét kháng cáo của các ị hại đề nghị tăng hình phạt đối với ị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án cấp s thẩm khi quyết định hình phạt đã xem xét và vận dụng đầy đủ các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ị cáo như: Về tình tiết tăng n ng: Bị cáo H đã mười lần nhận tiền của mười bị hại trong vụ án và những lần nhận tiền này đều đủ tang số cấu thành tội phạm nên đã phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã vận động gia đình ồi thường cho các bị hại số tiền 334.500.000 đồng, tích cực hợp tác với c quan điều tra để giải quyết nhanh vụ án, năm 2017 ị cáo có công cứu người đuối nước được Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh t ng Bằng khen và có 05 bị hại có đ n xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại tại các điểm b, s, t, v khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015; và do bị cáo có nhiều 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, m t khác bị cáo đã cao tuổi đã áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề 08 năm tù là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật.
Từ những phân t ch trên, Hội đồng xét xử xét thấy các ị hại kháng
cáo đề nghị tăng hình phạt đối với ị cáo là kh ng có c sở để xem xét. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp; do đó, kh ng chấp nhận kháng cáo của các ị hại, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự s thẩm kh ng có kháng
cáo, kh ng ị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử kh ng xem xét.
Về án ph hình sự phúc thẩm: các ị hại không phải chịu án ph hình
sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự. Tuyên xử:
1. Kh ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị hại Đinh Hữu D,
Đinh Thị Thanh P, Đinh Thị Bích T, Bàn Văn S giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 56/2020/HSST ngày 25/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s, b, t, v khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Dư ng Minh H 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù t nh từ ngày 20 tháng 5 năm 2020. Miễn áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền đối với ị cáo Dư ng Minh H.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự s thẩm kh ng có kháng
cáo, kh ng ị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Việc thi hành án được thực hiện theo Bản án hình sự s thẩm số 56/2020/HS-ST ngày 25/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đ n yêu
cầu thi hành án, ên có nghĩa vụ thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tư ng ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án. Các ị hại kh ng phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Bình; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Quảng Bình; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Quảng Bình; - C quan CSTHAHS-CA tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - Trại tạm giam C ng an tỉnh Quảng Bình; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Ngọc Thông |