- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Hoàng Đức C 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2020, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 151 /2020/HSST Ngày 31/08/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm:
1. Ông Nguyễn Anh Đức
2. Bà Bùi Thị Mai
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Minh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên;
Ngày 31 tháng 08 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/HSST ngày 17 tháng 08 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Đức C, sinh năm: 1982; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện C, thành
phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Hoàng Đức T; con bà
Trịnh Thị T; Tiền án, tiền sự: 05 tiền án, trong đó 01 tiền án đã xóa.
- Bản án số 25/HSST ngày 27/8/2008, TAND thành phố H, tỉnh Hà Tây xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Bản số 126/HSST ngày 25/3/2010, TAND quận H, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 292/HSST ngày 25/10/2012, TAND quận T, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
- Bản án số 112/HSST ngày 17/11/2016, TAND huyện C, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2020 – Có mặt
Người bị hại: Chị Lương Thị Y, sinh năm: 1991, trú tại: phường K, quận H, thành phố Hà Nội – Vắng mặt có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h ngày 04/5/2020, Hoàng Đức C mang theo 01 vam phá khóa, 01 cà lê số 8 rồi đi bộ từ nhà ra xã T, huyện T, Hà Nội và bắt xe ôm đến khu vực H, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến B – quận H - Hà Nội, C xuống xe đi bộ một đoạn rồi tiếp tục bắt xe ôm đi đến khu vực gần Viện K xã , huyện T, thành phố Hà Nội, sau đó xuống xe và đi bộ đến cổng Công ty TNHH đầu tư phát triển xây dựng và thương mại H thuộc địa phận thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội thì C phát hiện thấy 01 xe máy màu xanh nhãn hiệu DAELIMKREA BKS: 29AA-XXX.XX của chị Lương Thị Y (sinh năm: 1991, trú tại: phường K, quận H, Hà Nội) dựng ở vỉa hè gần tường rào của Công ty. Quan sát thấy xe không khóa cổ, khóa càng và không có người trông coi, C tiến lại gần chiếc xe rồi lấy vam phá khóa mở ổ khóa điện của xe rồi ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe tẩu thoát. Khi C điều khiển chiếc xe trộm cắp được đi đến ngã tư P – M thuộc phường K, quận H, Hà Nội thì bị tổ công tác 141 – Công an thành phố Hà Nội phối hợp với Công an phường K, quận H, Hà Nội kiểm tra hành chính, phát hiện ổ khóa xe có dấu hiệu bị cạy phá; đồng thời phát hiện bên trong túi quần bên phải của C có 01 thanh kim loại dài 06cm, 01 cờ lê bằng sắt có số 8. Tại chỗ, C đã khai nhận đã trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 29AA-XXX.XX nên tổ công tác đã thu giữ của C: 01 xe mô tô nhãn hiệu DAELIMKREA BKS: 29AA-XXX.XX; 01 thanh kim loại dài 06cm, một đầu được mài dẹt dài 05cm, một đầu có hình lục giác và 01 cờ lê bằng kim loại cỡ số 8 và đưa C về trụ sở công an phường K làm việc.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 153 ngày 05/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: "tổng giá trị tài sản của vụ Trộm cắp tài sản tại thời điểm định giá là 5.500.000 đồng".
Đối với chiếc máy DAELIMKREA màu xanh BKS: 29AA-XXX.XX là tài sản của chị Lương Thị Y nên ngày 16/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã trả lại cho chị Y, chị Y đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Đối với 01 thanh kim loại dài 06cm, một đầu được mài dẹt dài 05cm, một đầu có hình lục giác và 01 cờ lê bằng kim loại cỡ số 8, C khai mua ở một cửa hàng (không nhớ địa chỉ) ở Phố H, quận H, Hà Nội và dùng làm công cụ phạm tội nên cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 147/CT - VKS ngày 14 tháng 08 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì quyết định truy tố Hoàng Đức C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã luận tội, xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã kết luận: Khoảng 12 giờ 30' ngày 04/5/2020, tại khu vực vỉa hè trước cổng Công ty TNHH đầu tư và phát triển xây dựng thương mại H thuộc khu nhà ở thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, bị cáo C đã dùng 01 vam phá khóa trộm cắp của chị Lương Thị Y 01 xe máy màu xanh nhãn hiệu DAELIMKREA BKS: 29AA-XXX.XX trị giá 5.500.000 đồng. Hành vi dùng của bị cáo là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, tịch thu tiêu hủy vật chứng; buộc bị cáo phải chịu tiền án phí theo luật định và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đến thời điểm mở phiên tòa không có người tham gia tố tụng nào có khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hội đồng xét xử nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo như sau {1}
Vì không có tiền ăn tiêu mà bị cáo chuẩn bị 01 vam phá khóa, 01 cờ lê số 8 đi lang thang mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 10 giờ ngày 04/5/2020, bị cáo phát hiện ở cổng Công ty TNHH đầu tư phát triển xây dựng và thương mại H thuộc địa phận thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội bị cáo phát hiện thấy 01 xe máy màu xanh nhãn hiệu DAELIMKREA BKS: 29AA-XXX.XX dựng ở vỉa hè gần tường rào của Công ty. Bị cáo quan sát thấy xe không khóa cổ, khóa càng và không có người trông coi, bị cáo lén lút tiến lại gần lấy vam phá khóa mở ổ khóa điện của xe rồi ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe tẩu thoát. Hành vi quan sát, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo có nhiều tiền án chưa được xóa lần phạm tội này bị truy tố theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có cơ sở. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi xem xÐt ®Õn l îng h×nh Héi ®ång xÐt xö ®¸nh gi¸ tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm cña hµnh vi người ph¹m téi, nh©n th©n ng êi ph¹m téi, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ cña vô ¸n, thÊy:
Tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì không có tiền ăn tiêu mà bị cáo đã chuẩn bị công cụ, phương tiện lén lút thực hiện hành trộm cắp tài sản, thể hiện sự táo tợn và coi thường luật pháp của bị cáo; đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được luật hình sự bảo vệ; gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo có nhiều tiền án thể hiện bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó để cải tạo mình trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội. tuy nhiên, sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình để các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh kết thúc vụ án. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về dân sự: Người bị hại là chị Lương Thị Y đã nhận lại tài sản không có ý kiến gì.
Vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 06cm, một đầu được mài dẹt dài 05cm, một đầu có hình lục giác và 01 cờ lê bằng kim loại cỡ số 8. Vật chứng hiện ở chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Hoàng Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Hoàng Đức C 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2020, tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2. Áp dụng Điều 76, 196, 231, và điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội,
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 06cm, một đầu được mài dẹt dài 05cm, một đầu có hình lục giác và 01 cờ lê bằng kim loại cỡ số 8. Vật chứng hiện ở chi cục thi hành án dân sự huyện T theo biên bản bàn giao ngày 27/08/2020
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xét xử.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Thanh Trì; - Trại tạm giam CATPHN; - Chị cục THA huyện Thanh Trì; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | (đã ký) §ç V¨n Nghiªm |