vanban.org

Bản án 151/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vòng A L phạm tội: “trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vòng A L 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/04/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vòng A L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vòng A L phạm tội: “trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ B
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2019/HS-ST
Ngày: 13/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Thắm;

- Bà Nguyễn Kim Lý.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 09 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2019/HSST ngày 22 tháng 08 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2019/HSST-QĐ ngày 04/09/2019, đối với bị cáo:

Vòng A L, sinh năm 1975, tại tỉnh Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: Ấp 7, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không. Con ông Vòng Thánh Ph, đã chết và bà Chềnh Lộc N, đã chết; vợ Vũ Thị Ch, sinh năm 1964; có 01 con tên Vòng Ngọc N, không rõ năm sinh.

Tiền án: Ngày 05/12/2017, bị Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương ra bản án số 36/2017/HSST xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” tính từ ngày 26/08/2017, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Đến ngày 26/08/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 25/12/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ra Bản án số 47/HSST xử phạt 12 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản” tính từ ngày 24/09/2000, bồi thường dân sự 7.221.500 đồng cho ông Lê Thanh Bình, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, miễn án phí dân sự sơ thẩm. Đến ngày 18/09/2001 chấp hành xong hình phạt tù. Không xác định được phần bồi thường dân sự (hết thời hiệu thi hành án theo khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014), nộp xong án phí hình sự sơ thẩm vào tháng 10/2001.

Bản án số 36/2010/HSST, ngày 14/05/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 15/09/2009. Đến ngày 15/06/2010 được trả tự do, tháng 07/2010 nộp xong án phí hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Bỉnh Dương từ ngày 23/04/2019 đến nay, có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH Đầu tư sản xuất kinh doanh may mặc Hoàn Mỹ; trụ sở: Ấp Dòng Sỏi, xã An Tây, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Đại diện theo pháp luât: Ông Nguyễn Văn K – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện ủy quyền: Ông Trần Minh V, sinh năm 1983; trú tại: Nhà lưu trú Công ty TNHH Đầu tư sản xuất kinh doanh may mặc Hoàn Mỹ, ấp Dòng Sỏi, xã An Tây, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người liên quan: Ông Nguyễn Phi L, sinh năm 1985; trú tại: Ấp Tân Ngọc, xã Ph, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mắt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vòng A L là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, sống lang thang trên địa bàn thị xã B, tỉnh Bình Dương từ năm 2018 đến nay. Trong khoảng thời gian đó, L biết Công ty TNHH Đầu tư sản xuất kinh doanh may mặc Hoàn Mỹ (gọi tắt là công ty Hoàn Mỹ) có trụ sở tại ấp Dòng Sỏi, xã An Tây, thị xã B, tỉnh Bình Dương đã ngưng hoạt động từ lâu, trong Công ty Hoàn Mỹ chỉ có vài nhân viên bảo vệ làm nhiệm vụ trong coi, quản lý tài sản, L nảy sinh ý định cắt trộm hệ thống dây điện trong Công ty Hoàn Mỹ để bán lấy tiền tiêu xài.

Lúc 19 giờ ngày 21/04/2019, L mang theo 01 cây kiềm cộng lực dài 70 cm; 01 đèn pin hiệu A1-30W, rồi điều khiển xe mô tô hiệu Attila biển kiểm soát 72T1-2562 đến Công ty Hoàn Mỹ, L thấy xung quanh không có người nên để xe máy bên ngoài rồi leo qua tường rào đột nhập vào bên trong, L lấy một thang tre dài 6 mét có sẵn trong Công ty và lén lút đi vào xưởng bỏ hoang trong cắt được 07 đoạn dây điện hiệu Cadivi CV50, mỗi đoạn dài 5,5 mét, tổng cộng là 38,5 mét. Khi L đang tiếp tục cắt dây điện thì bị hai nhân viên bảo vệ là anh Đinh Văn Th, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Cây Da, xã X, huyện M, tỉnh Quảng Bình và anh Võ Văn Đ, sinh năm 1977; trú tại: Ấp 7, xã KH, huyện U M, tỉnh Cà Mau phát hiện, bắt giữ giao cho Công an xã An Tây.

Tại cơ quan Công an xã An Tây, ban đầu Vòng A L khai nhận mình tên là Trần Minh Hòa, sinh năm 1967, trú tại: Khu phố 2, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Công an xã An Tây chuyển hồ sơ cùng đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương giải quyết theo thẩm quyền thì L khai tên mình là Vòng A L.

Vật chứng thu giữ: 01 thang tre dài 6 mét; 01 kiềm cộng lực bằng sắt dài 70 cm; 01 đèn pin hiệu A1-30W; 01 xe mô tô hiệu Attila biển kiểm soát 72T1-2562 và 38,5 mét dây điện hiệu Cadivi CV50.

Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Vòng A L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, Vòng A L khai nhận trước ngày 21/04/2019, L đã 02 lần trộm cắp dây điện tại Công ty TNHH Đầu tư sản xuất kinh doanh may mặc Hoàn Mỹ, cụ thể:

- Ngày 15/04/2019, L cắt trộm được 75 kg dây điện (không nhớ rõ đặc điểm), sau đó L bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) mua ve chai dạo ven đường với số tiền là 900.000 đồng, số tiền này L tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy thu được số dây điện này.

- Ngày 18/04/2019, L cắt trộm 60,3m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50 và 507,2m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV8 rồi mang về nhà cất giấu. Khi bị bắt, Vòng A L đã giao nộp lại số dây điện này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Ngày 23/04/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã B định giá: 38,5m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50 có giá trị 2.250.000 đồng, 60,3m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50 có giá trị 3.520.000 đồng và 507,2m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV8 có giá trị là 4.050.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Vòng A L chiếm đoạt là 9.820.000 đồng.

Đối với xe mô tô hiệu Attila biển kiểm soát 72T1-2562 là của anh Nguyễn Phi L, sinh năm 1985, trú tại: Ấp T, xã Ph, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là bạn làm chung công ty trước đó với Vòng A L. Anh Linh cho L mượn xe để đi làm ăn, việc L mượn xe làm phương tiện phạm tội anh Linh không biết.

Ngày 19/06/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 157/QĐ, trả lại:

- 01 xe mô tô hiệu Attila biển kiểm soát 72T1-2562 cho anh Nguyễn Phi L, anh L không có yêu cầu gì thêm.

- 01 cái thang tre dài 6 mét, 38,5m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50, 60,3m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV8 cho đại diện của bị hại là anh Trần Minh V, đại diện của bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự, về hình sự yêu cầu xử lý bị cáo thật nghiêm.

Đối với 75 kg dây diện mà Vòng A L khai cắt trộm ngày 15/04/2019, anh Trần Minh Vương khai không xác định được tài sản mất trộm.

Tại bản Cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 22/08/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vòng A L về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội trộm cắp tài sản. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Vòng A L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Tại phiên toà bị cáo Vòng A L thừa nhận khi bị cáo bị bắt, tại Công an xã An Tây bị cáo khai là Trần Minh H (không phải tên thật) là nhằm mục đích gian dối và trốn tránh trách nhiệm. Tại Công an thị xã B, sau khi thấy không thể trốn tránh được trách nhiệm nên đã khai lại tên là Vòng A L và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo không có ý kiến khiếu nại đối với hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bị hại yêu cầu Tòa án tuyên buộc bị cáo trả lại đường dây diện như hiện trạng ban đầu cho Công ty Hoàn Mỹ và xử lý hình sự thật nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, đại diện ủy quyền của bị hại không chứng minh được đường dây điện hiện trạng ban đầu là như thế nào và cũng không chứng minh được thiệt hại bao nhiêu. Sau khi được Hội đồng xét xử giải thích nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại thì phải chứng minh được thiệt hại do không chứng minh được thiệt hại nên bị hại rút lại yêu cầu, thống nhất chỉ yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Phần tranh tụng, bị cáo người bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, thống nhất với tội danh và điều luật và hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã ăn năn hối cải, nhận thức rõ hành vi sai trái của mình là vi phạm pháp luật, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Vòng A L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng; các biên bản hỏi cung bị can, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vòng A L đã lợi dụng sự sơ hở trong công tác quản lý của Công ty TNHH Đầu tư sản xuất kinh doanh may mặc Hoàn Mỹ, lén lút nhiều lần cắt trộm dây điện của Công ty Đầu tư sản xuất kinh doanh may mặc Hoàn Mỹ, cụ thể như sau:

Lần 01: Vào ngày 18/04/2019, L cắt trộm 603m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50 có giá trị 3.520.000 đồng và 507,2m dây diện nhãn hiệu Cadivi CV8 có giá trị 4.050.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.570.000 đồng.

Lần 02: Vào ngày 21/04/2019, L cắt trộm 38,5m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50 có giá trị 2.250.000 đồng.

Tổng giá trị Vòng A L lén lút lấy trộm là 9.820.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yêu cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do vậy, Cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 22/08/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vòng A L về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tinh chất, mứ c đô ̣ nghiêm tro ̣ng của hành vi pha ̣m tô ̣i , các tình tiết

́ tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

̀

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời, còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và 01 lần bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt về tội trộm cắp tài sản, chấp hành án xong lẽ ra bị cáo phải biết tự sửa chữa bản thân để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Điều này, thể hiện sự coi thường pháp luật và không có ý thức tự cải sửa bản thân nên Hội đồng xét xử sẽ xử lý thật nghiêm để răn đe và trừng trị bị cáo.

Về tinh tiết tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành

̀

̀

vi trộm cắp tài sản, cả hai lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đồng thời, trước khi phạm tội bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần và tái phạm được quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự : Trong quá trinh điều trVòng A

̀

̀

̀ Lúc đầu bị cáo ý thức khai báo gian dối nhưng tại cơ quan điều tra công an thị xã B và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo được quy đi ̣nh điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội có 02 tình tiết tăng nặng, đã bị Tòa án xử phạt nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản, thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài đủ để bị cáo cải tạo, học tập và trở thành công dân tốt. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật và hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 kiềm cộng lực bằng sắt dài 70cm và 01 đèn pin hiệu A1-30W đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô hiệu Attila biển kiểm soát 72T1-2562 là của anh Nguyễn Phi L, anh L cho bị cáo mượn xe để đi làm, không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội, ngày 19/06/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số trả lại cho anh Linh là có cơ sở.

- Đối với 01 cái thang tre dài 6 mét, 38,5m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV50, 60,3m dây điện nhãn hiệu Cadivi CV8 đây là tài sản của bị hại còn giá trị sử dụng, cùng ngày 19/6/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại (người nhận là anh Trần Minh V đại diện ủy quyền của bị hại) là đúng quy định.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vòng A L phạm tội: “trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Vòng A L 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/04/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy 01 kiềm cộng lực bằng sắt dài 70cm và 01 đèn pin hiệu A1-30W theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2019 giữa Công an thị xã B với Chi cục Thi hành án thị xã B, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Bị cáo Vòng A L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ