- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng B (Trộm) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Bích phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 151/2018/HSST Ngày: 30-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Kim Thạnh
Cán bộ tư pháp phường B – thành phố L
2. Ông Phạm Ngọc Nguyên
Cán bộ tư pháp phường T – thành phố L
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2018/HSST ngày 13/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2018/QĐXXST-HS ngày 16/11/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1967 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H 2, xã K, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T (chết) và bà Lê Thị M; bị cáo có chồng tên Trần Văn H, sinh năm 1961 và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm khỏi nơi trú số 23/2018/HSST-LCCT ngày 27/11/2018 và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ 12, ấp H 2, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 12/9/2018, Nguyễn Hoàng N đến nhà của chị Nguyễn Thị Y tại Tổ 12, ấp H 2, xã K, thành phố L, tỉnh An Giang để mượn tiền nhưng không có chị Y ở nhà. Vì thấy cửa phòng ngủ của chị Y không khóa nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. thực hiện ý đồ này B vào phòng chị Y lấy trộm 14 chiếc vòng vàng 18K để trong hộp giấy màu hồng trong phòng đem về nhà cất giấu. Khoảng 8 giờ ngày 15/9/2018 Bích đem 07 chiếc vòng 18K đến tiệm vàng L ở Phú H, huyện S bán được 7.540.000 đồng và đem 07 chiếc vòng 18K còn lại đến tiệm vàng P ở phường H, thành phố L bán được 6.482.000 đồng. Số tiền này, B chuyển khoản trả nợ cho Công ty Tài Chính V 1.800.000 đồng; Chuyển khoản trả nợ cho Công ty Tài Chính A 1.386.000đ; Trả nợ cho ông Trần Văn D 1.300.000 đồng, Trả nợ chị cho chị Trần Kim H 1.700.000 đồng; trả nợ cho bà N (không rõ địa chỉ) là 4.300.000 đồng; và trả tiền vay cho những người ở khu vực chợ K (Không rõ họ tên và địa chỉ) 3.136.000 đồng; Còn lại 400.000 đồng B tiêu xài cá nhân. Đến ngày 17/9/2018 chị Y phát hiện bị mất 14 chiếc vòng vàng 18K nên đến trình báo tại Công An xã Mỹ K. Đến 13 giờ ngày 19/9/2018, B đến Công An xã K đầu thú.
Kết luận định giá tài sản số 124/KL.HĐ ngày 10/10/2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố L, xác định: 14 chiếc vòng vàng 18K, trọng lượng 7 chỉ, trị giá 17.794.000 đồng.
Cáo trạng số: 150/CT-VKS ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, truy tố Nguyễn Hoàng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Y đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
* Bị cáo Nguyễn Hoàng B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, về tội danh; Về hình phạt bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội vừa qua xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện về lo cho gia đình và các con còn nhỏ.
* Người bị hại Nguyễn Thị Y đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về dân sự đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại.
Về trách nhiệm hình sự:
Ngày 12/9/2018, bị cáo Nguyễn Hoàng B đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để thực hiện hành vi lén lút lấy trộm lấy trộm 14 chiếc vòng vàng 18K đem về nhà cất giấu.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 17.794.000 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng B theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo đang ở độ tuổi trung niên, khỏe mạnh, có đủ chính chắn để nhận thức được hành vi của bản thân. Lẽ ra, khi thấy người bị hại sơ hở để lại tài sản, bị cáo phải trông giữ, nhắc nhở bị hại, tạo hình ảnh đẹp, mối thân tình bà con hàng xóm. Nhưng ngược lại, vì tham lam nhất thời, thấy tài sản có giá trị nhưng không có người trông giữ nên bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm đem về nhà cất giấu. Bị cáo biết rõ hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tuy nhiên có xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường tài sản bị mất cho bị hại, thiệt hại xảy ra không lớn, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, thời gian tại ngoại cuộc sống đã ổn định, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn hình phạt có điều kiện là phải chịu thời gian thử thách, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ răn đe và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Bích phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 7, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015;
Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng B 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (30/11/2018).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng B cho Ủy ban nhân dân xã K, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
[2] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích án treo)
Nơi gửi:
| - Những người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh An Giang. - Thi hành TP L; - Công an TP L; - VKSND TP L; - UBND xã M, TP L; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Trang |