- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Minh T1 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2018/HS-ST Ngày: 12/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bé.
2. Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Lý Minh T1, sinh năm: 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Công T2 (chết) và bà: Trần Thị C; bị cáo có vợ tên Phan Thị Thanh N, sinh năm: 1987, có 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Ngày 10/7/1991, Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Ngày 26/6/1992, Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 65 tháng 12 ngày tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” và “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 22/9/1994, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 năm 05 tháng 05 ngày tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Ngày 25/10/2000, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 11 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Trốn khỏi nơi giam”. Ngày 12/9/2011, Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/4/2015, Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/01/2018 (có mặt).
Bị hại: Anh Hồ Thanh P, sinh năm: 1980; địa chỉ: Ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài nên vào khoảng 19 giờ ngày 13/01/2018, Lý Minh T1 mua 01 cây kìm cắt cỏ màu xanh và 01 tu vít màu đen cất dấu trong người rồi đi bộ tìm nhà nào có tài sản thì chiếm đoạt. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 14/01/2018, T1 phát hiện tại cửa hàng vật liệu xây dựng do anh Hồ Thanh P làm chủ, địa chỉ: Số 1132, tổ 10, ấp X, xã A, huyện C có đậu chiếc xe tải nên T1 leo cổng phụ vào. Khi vào được bên trong, T1 mở cửa leo lên cabin chiếc xe tải biển số 51D-122.75 rồi đóng cửa lại và dùng tu vít mở công tắc điện điều chỉnh kính trên cửa bên trái, dùng kìm cắt đứt toàn bộ dây điện. Tiếp theo, T1 mở đường viền đồng hồ trên tap lô rồi mở tiếp đồng hồ tap lô, dùng kìm cắt đứt toàn bộ dây điện nối với đồng hồ. Sau đó T1 bỏ toàn bộ tài sản vừa lấy được vào một túi nylon màu đen đã chuẩn bị sẵn. Lúc này, anh P phát hiện có kẻ đột nhập vào trong cabin xe nên gọi điện thoại cho người thân và tri hô, T1 bỏ chạy nhưng bị anh P cùng người dân hỗ trợ bắt quả tang cùng tang vật giao công an xã xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra ban đầu Lý Minh T1 khai tên Nguyễn Trung H, nhưng qua điều tra xác minh thì tên thật là Lý Minh T1, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08 ngày 17/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt gồm 01 bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin buồng lái của xe ô tô, đường viền Caron bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin của xe ô tô và 01 ổ công tắc điều khiển kính trên cửa bên trái của xe ô tô có giá trị là 28.300.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin buồng lái, đường viền caron bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin và 01 ổ công tắc điều khiển kính trên cửa bên trái của xe ôtô, Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu xong.
- 01 (một) tu vít cán màu đen, mũi bằng kim loại dài 12cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kềm loại kềm cắt cán màu xanh, lưỡi bằng kim loại dài 15cm, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu GOLY G1030, số Imei: 358215068783291; 01 (một) bóp da bên trong có 641.000 đồng, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng.
Tại Bản cáo trạng số 102/CTr-VKS-HS ngày 26/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố Lý Minh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lý Minh T1 với mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù; đồng thời đề nghị tổng hợp hình phạt và xử lý về vật chứng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lý Minh T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi: Do có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài nên vào khoảng 02 giờ ngày 14/01/2018, T1 phát hiện tại cửa hàng vật liệu xây dựng tại địa chỉ số 1132, tổ 10, ấp X, xã A, huyện C do anh Hồ Thanh P làm chủ có đậu chiếc xe ôtô tải biển số 51D-122.75 nên T1 leo lên cabin chiếc xe ôtô tải rồi đóng cửa lại và dùng tu vít mở công tắc điện điều chỉnh kính trên cửa bên trái, dùng kềm cắt đứt toàn bộ dây điện. Tiếp theo, T1 mở đường viền đồng hồ trên taplo rồi mở tiếp đồng hồ taplo, dùng kềm cắt đứt toàn bộ dây điện nối với đồng hồ. Sau đó T1 bỏ toàn bộ tài sản vừa lấy được vào một túi nylon màu đen đã chuẩn bị sẵn. Lúc này, anh P phát hiện có người đột nhập vào trong cabin xe nên gọi điện thoại cho người thân và tri hô, T1 bỏ chạy nhưng bị anh P cùng người dân hỗ trợ bắt quả tang cùng tang vật giao công an xử lý như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Củ Chi ngày 17/01/2018, 01 bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin buồng lái, đường viền caron bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin và 01 ổ công tắc điều khiển kính trên cửa bên trái của xe ôtô có giá trị là 28.300.000 (hai mươi tám triệu ba trăm nghìn) đồng.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi có 07 tiền án, trong đó có 01 bản án chưa chấp hành án; do đó, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2018, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Lý Minh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội và quyền sở hữu về tài sản của công dân. Bị cáo phạm tội trong lúc chưa được xóa án tích các bản án trước, khi mãn hạn tù về bị cáo không sửa chữa mà tiếp tục đi theo con đường cũ, trong lần phạm tội này bị cáo đã khai man lý lịch, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ.
Về nghĩa vụ dân sự: Anh Hồ Thanh P là người bị hại trong vụ án đã được Cơ quan điều tra trả lại 01 bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin buồng lái, đường viền caron bảng đồng hồ công năng trên taplo cabin và 01 ổ công tắc điều khiển kính trên cửa bên trái của xe ôtô và tại phiên tòa anh P yêu cầu bị cáo T1 phải bồi thường số tiền là 15.100.000 (mười lăm triệu một trăm nghìn) đồng tiền công sửa chữa xe; Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền là 15.100.000 (mười lăm triệu một trăm nghìn) đồng.
Tại phiên tòa, Lý Minh T1 đồng ý bồi thường khắc phục số tiền nêu trên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu GOLY G1030, số Imei: 358215068783291; 01 (một) bóp da bên trong có 641.000 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào quá trình phạm tội nên trả lại cho bị cáo (nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án).
- 01 (một) tu vít cán màu đen, mũi bằng kim loại dài 12cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kiềm loại kiềm cắt cán màu xanh, lưỡi bằng kim loại dài 15cm, đã qua sử dụng; đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 13/01/2017 đến ngày 22/01/2017 theo Bản án số 61/2017/HSST ngày 07/8/2017; bị cáo chưa chấp hành bản án này do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt của bản án này và bản án số 61/2017/HSST ngày 07/8/2017.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lý Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Lý Minh T1 06 (sáu) năm tù.
Về tổng hợp hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Buộc Bị cáo Lý Minh T1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 10 (mười) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/01/2018, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 13/01/2017 đến ngày 22/01/2017 theo Bản án số 61/2017/HSST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Trả lại cho bị cáo Lý Minh T1: 01 (một) điện thoại di động hiệu GOLY G1030, số Imei: 358215068783291; 01 (một) bóp da bên trong có 641.000 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng (nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án).
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) tu vít cán màu đen, mũi bằng kim loại dài 12cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kềm loại kềm cắt cán màu xanh, lưỡi bằng kim loại dài 15cm, đã qua sử dụng.
(Tang vật theo Phiếu nhập kho vật chứng số 76/PNK ngày 22/02/2018 của Công an huyện Củ Chi).
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo Lý Minh T1 tự nguyện bồi thường cho anh Hồ Thanh P số tiền 15.100.000 (mười lăm triệu một trăm nghìn) đồng. Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày anh Hồ Thanh P có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu bị cáo chưa thi hành thì hàng tháng bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Lý Minh T1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 755.000 (bảy trăm năm mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, bị hại.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Tùng Lâm |