vanban.org

Bản án 151/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 11/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”,nhưng cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Nguyễn D về cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn D - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”,nhưng cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:151/2018/HS-PT
Ngày 11/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh long

Các Thẩm phán:

Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Bùi Trọng Danh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na– Thư ký TAND Tp. Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em- Kiểm sát viên.

Ngày 11/9/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2018/TLPT-HS ngày 12/7/2018 đối với bị cáo Nguyễn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2018/HS-ST ngày 06/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn D, sinh năm 1976 tại Tp. Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 24 phường T, quận K, Tp. Đà Nẵng; Nơi ở: Tổ 96 phường M, quận C, Tp. Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Nguyễn C (đã chết) và bà Lê Thị B (còn sống); có vợ Lê Thị Cẩm V và 03 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa: Luật sư Phạm Văn N – thuộc Văn phòng luật sư Đ, đoàn luật sư Tp. Đà Nẵng bào chữa cho bị cáo Nguyễn D theo yêu cầu của bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/10/2017, Nguyễn D không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 43K7- 1497 chạy trên tầng 2 cầu vượt Ngã ba Huế hướng từ Tôn Đức Thắng về Điện Biên Phủ với tốc độ khoảng 35km/h. Khi đến đầu dốc cầu vượt, D quan sát thấy một người phụ nữ là bà Lê Thị H đang đi bộ ngang qua đường cách chỗ D khoảng 20m. Khi đó có đoàn tàu lửa đang chạy dưới tầng 1 của cầu vượt, D quay đầu nhìn đoàn tàu và xe D điều khiển khi đến gần người đi bộ. Khi D quay lại thì khoảng cách giữa D và người đi bộ quá gần, khoảng 1m đến 1,5m, D không xử lý kịp nên đã điều khiển xe tông vào bà H ngã xuống đường. Sau khi đưa bà H đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa Khoa Tp. Đà Nẵng; D đi về nhà, đến ngày 26/10/2017 khi biết tin bà H chết và cơ quan Công an đang tìm mình, D đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đầu thú.

*Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô BKS 43K7- 1497; 01 giấy đăng ký xe số A0103178 đứng tên ông Trần Công Nhiễu và 02 chiếc dép nhựa màu tím đã cũ.

*Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 583/GĐ-PY, ngày 11/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Nạn nhân Lê Thị H chết là do đa chấn thương.

Với nội dung như trên, tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 58/2018/HS-ST ngày 06/6/2018 củaTòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn D 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử về phần xử lý tang vật, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 13/06/2018, bị cáo Nguyễn D có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có vợ 3 con, phải nuôi mẹ già, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người bị hại có lỗi; xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn D thừa nhận hành vi và tội danh như án sơ thẩm đã xử; bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về phần thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn D theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Bị cáo Nguyễn D (không có giấy phép lái xe theo quy định) đã có hành vi không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông thiếu chú ý quan sát khi tham gia giao thông gây tai nạn, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 1 người nên Bản án hình sự sơ thẩm củaTòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, nguyên nhân của vụ tai nạn có một phần lỗi của người bị hại, tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện bị hại là người bị tâm thần, đã đi vào đường cấm người đi bộ trên đường cầu vượt; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo giữ ngyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: nguyên nhân của vụ tại nạn có một phần lỗi nghiêm trọng của nạn nhân, bản thân bị hại là người tâm thần khi tham gia giao thông không có người giám hộ giám sát quản lý, đi vào phần đường cấm người đi bộ trên cầu vượt đã có biển báo cấm; sau tai nạn bị cáo đã đưa bị hại đi cấp cứu tại bệnh viện, tìm kiếm thân nhân của bị hại; bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc và phải nuôi mẹ già và 03 con nhỏ nên luật sư đề nghị áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 15/10/2017, Nguyễn D không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 43K7-1497 chạy trên tầng 2 cầu vượt Ngã ba Huế , hướng từ đường Tôn Đức Thắng về đường Điện Biên Phủ với tốc độ khoảng 35km/h. Do không chú ý quan sát nên đã điều khiển xe mô tô tông vào bà Lê Thị H đang đi bộ qua đường hướng từ trái sang phải theo chiều xe D chạy, gây nên vụ tai nạn giao thông và hậu quả là bà H chết.

Hành vi của bị cáo là không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe mô tô có phân khối lớn, tham gia giao thông nhưng không chú ý quan sát gây tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng làm một người chết. Vì vậy, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Xét kháng cáo của bị cáo HĐXX nhận thấy: nguyên nhân của vụ tai nạn có phần lỗi nghiêm trọng của nạn nhân, tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện bị hại là người tâm thần đã đi vào phần đường cấm người đi bộ trên cầu vượt; bản thân bị cáo ngoài lỗi chính là không có giấy phép lái xe theo quy định chỉ có lỗi là thiếu chú ý quan sát chứ không thuộc trường hợp phóng nhanh vượt ẩu; xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, ngoài lần phạm tội này thì trước đến nay bị cáo không có vi phạm pháp luật gì, có nơi cư trú rõ ràng; sau khi gây tai nạn bị cáo chở nạn nhân đi cấp cứu, ra đầu thú sau khi biết tin bà H chết; quá trình tố tụng khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; hoàn cảnh gia đình khó khăn có vợ 3 con nhỏ (con nhỏ nhất mới sinh tháng 3 năm 2018), phải nuôi mẹ gìa. Do vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng chế định án treo cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương nơi cư trú và ấn định cho bị cáo một thời gian thử thách cũng có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Việt Nam như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là thỏa đáng.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của BLTTHS 2015; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn D, sửa một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”,nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (11/9/2018).

Giao bị cáo Nguyễn D về cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Dkhông phải chịuán phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ