vanban.org

Bản án 151/2018/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Tô Đò L đối với ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N. Buộc ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N phải trả cho ông Tô Đò L số tiền là 27.500.000 đồng và 1,5 chỉ vàng 24k. Đối với số tiền kể từ ngày ông L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông L và bà N không thi hành xong thì ông L và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2018/DS - ST
Ngày 17 - 7 - 2018
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Nguyễn Văn Hành

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt - Thư ký Tòa án

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2017/TLST- DS ngày 30 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2018/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tô Đò L – sinh năm 1980 (Có mặt)

Cư trú tại: Ấp NV, xã TT, huyện CN, Tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn L – sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp HT, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị N – sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp HT, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Tô Đò L trình bày: Ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N trước đây có nợ ông số tiền là 27.500.000 đồng và 1,5 chỉ vàng 24k. Vào ngày 25 tháng 3 năm 2017 ông có yêu cầu đến Ban nhân dân ấp HT, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh Cà Mau để giải quyết thì tại phiên hòa giải cùng ngày ông Đỗ Văn L đã thừa nhận là vợ chồng ông L có nợ ông số tiền và vàng nêu trên, đến ngày 20 tháng 7 năm 2017 thì giữa ông và ông L có làm biên bản thỏa thuận trả nợ tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước với nội dung từ ngày 20 tháng 7 năm 2017 âm lịch ông L và bà N sẽ trả cho ông số tiền là 13.750.000 đồng và 7,5 phân vàng 24k. Còn lại 13.750.000 đồng và 7,5 phân vàng 24k ông L và bà N sẽ trả dứt điểm vào ngày 15 tháng 5 năm 2018. Tuy nhiên sau khi thỏa thuận tại Tòa án và ông rút lại đơn khởi kiện thì ông L và bà N không thực hiện theo thỏa thuận. Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện CN xét xử buộc ông L và bà N phải trả cho ông số tiền là 27.500.000 đồng và 1,5 chỉ vàng 24k.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể là tranh chấp “ Đòi lại tài sản” theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Bộ luật dân sự năm 2015. Ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N có địa chỉ cư trú tại ấp HT, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện CN thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt và không có người đại diện tham gia phiên tòa. Nên Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án như sau: Giao dịch mượn tiền và vàng giữa các đương sự vào năm 2015 là có xảy ra trên thực tế và được các đương sự thống nhất thừa nhận tại các biên bản hòa giải tại địa phương và tại biên bản thỏa thuận tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước vào ngày 20 tháng 7 năm 2017. Đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Sự việc ông Đỗ Văn L có thỏa thuận với ông Tô Đò L vào ngày 20 tháng 7 năm 2017 là có xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên ông L và bà N không thực hiện theo thỏa thuận là trả vàng và tiền cho ông L. Nay ông Tô Đò L tiếp tục yêu cầu vợ chồng ông Đỗ Văn L phải trả tiền và vàng còn nợ là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N phải chịu theo quy định của pháp luật. Giá vàng 24k được áp dụng để tính án phí theo công bố của Hội Kim hoàn tỉnh Cà Mau lúc 08 giờ 04 phút ngày 17 tháng 7 năm 2018 là 3.520.000 đồng/ chỉ. Như vậy Ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là (27.500.000 đồng + 3.520.000 x 1,5 chỉ) x 5% = 1.639.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các điều 26, 35, 39, 147, 227, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 166, 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Tô Đò L đối với ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N. Buộc ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N phải trả cho ông Tô Đò L số tiền là 27.500.000 đồng và 1,5 chỉ vàng 24k. Đối với số tiền kể từ ngày ông L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông L và bà N không thi hành xong thì ông L và bà N còn phải chịu lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Buộc ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N phải nộp 1.639.000 đồng. Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Ông Tô Đò L được nhận lại 822.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004308 ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. ông Đỗ Văn L và bà Lê Thị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ