vanban.org

Bản án 151/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Doãn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 151/2017/HSST
Ngày 21 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Đỗ Thị Hà.

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị An

2. Bà Phạm Thị Thu

- Thư ký phiên tòa:

Ông Lê Tiến Thành – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Nhâm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2017/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2017, Quyết định xét xử số 169/2017/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đố i vớ i bị cáo:

Bùi Doãn H - sinh ngà y 24/11/1981; Nơi cư trú: SN 91, đường B, tổ 08, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Bùi Doãn Svà bà Hà Thị B (đã chết); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 643 ngày 06/5/2009 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp đưa Bùi Doãn H vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Bình thời hạn 15 tháng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2017 đến ngày 03/7/2017 chuyển tạm giam; Bị cáo có mặt.

- Những người tham gia tố tụng:

Người làm chứng:

1. Anh Vũ Đình C, sinh năm 1984

Nơi cư trú: SN 18, tổ 49, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1965

Nơi cư trú: Tổ 38, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Anh C, anh H vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 27/6/2017, tại khu vực tổ 50, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Bùi Doãn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trước sự chứng kiến của người làm chứng là anh Vũ Đình C và anh Nguyễn Thanh H, Cơ quan điều tra kiểm tra và thu tại túi quần bên phải phía trước H đang mặc 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa 14 gói được gói bằng giấy trắng dòng kẻ, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Kiểm tra người H, thu tại túi quần sau bên phải H đang mặc 01 ví giả da màu đen đã cũ, bên trong có 400.000 đồng.

Tại bản kế t luậ n giá m đị nh số 283/KLGĐ-PC54 ngày 27/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kế t luậ n:

“Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin có trọng lượng 0,9648 gam”

Bản c áo trạng số 143/KSĐT ngà y 15 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh truy tố bị cá o Bùi Doãn H về tộ i “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y” theo Khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự .

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Doãn H khai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/6/2017, H thuê xe ôm từ nhà ra khu vực Cống Trắng, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ và mua của người này một gói ma túy bên trong có các gói ma túy nhỏ với số tiền 2.600.000 đồng. H bỏ ma túy vừa mua vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi tìm chỗ để sử dụng. Khi đi bộ đến khu vực tổ 50, phường Quang Trung thì bị bắt và thu giữ toàn bộ số ma túy. Việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Doãn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội ban hành ngày 20/6/2017; Khoản 3 Điều 7; Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c án từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2017.

- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 400.000 đồng do không liên quan đến tội phạm;

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 27/6/2017, Bùi Doãn H dùng số tiền 2.600.000 đồng để mua của một người không quen biết một gói ma túy bên trong có 14 gói nhỏ, loại ma túy là Hêrôin, có tổng trọng lượng là 0,9648 gam, mục đích là để sử dụng cho bản thân. Khi chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát phát hiện và bắt quả tang. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”;

Hành vi của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép trong người 0,9648 gam Hêrôin. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thì:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, coocain, Methamphetanmine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Như vậy, theo hướng dẫn Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Khoản 3 Điề u 7 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015 hướng dẫn áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội thì thấy: mức hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 nặng hơn so với mức hình phạt tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : bị cáo khai báo thành khẩ n nên đượ c á p dụ ng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự . Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng” nhưng xét bị cáo H không có việc làm và thu nhập ổn định, tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng, không có mục đích lợi nhuận nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vậ t chứ ng vụ án: Số ma tú y thu giữ củ a bị cá o còn lại sau giám định là vật thuộ c loạ i Nhà nướ c cấ m lưu hà nh nên căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự cầ n tị ch thu tiêu hủ y. Đối với 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo nhưng trong quá trình điều tra, xét xử thấy số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý số tiền để đảm bảo thi hành án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho bị cáo Bùi Doãn H nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ T ĐỊ NH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Doãn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Khoản 3 Điề u 7; Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015.

Xử phạ t bị cá o Bùi Doãn H 02 (hai) năm tù, thờ i hạ n tù tính từ ngày bắt t ạm giữ 27/6/2017.

3. Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng: Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sư.̣

- Tịch thu toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định chứa trong phong bì niêm phong vật chứng số 283/KLGĐ để tiêu hủy.

- Trả lại bị cáo 01 chiếc ví giả da và 400.000 đồ ng nhưng tiế p tụ c quả n lý để đả m bả o thi hà nh á n.

(Số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã chuyển Chi cụ c Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 15/8/2017)

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự , buộ c bị cá o Bùi Doãn H phải nộp 200.000 đồ ng á n phí hì nh sự sơ thẩ m.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Doãn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/9/2017.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhậ n:

Cỡ chữ