- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÁ HS SỐ 150 ( 12/5/2026) - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2026/HS-ST Ngày 12 tháng 5 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Toản
Ông Nguyễn Ngọc Hiệu
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, Tòa án nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
1. Bị cáo: Họ và tên: Nông Thiện N; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam
- Sinh ngày 07 tháng 10 năm 2006. Số CCCD:024206013476, cấp ngày 17/12/2021
- Nơi thường trú: thôn T, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
- Nơi ở: tổ dân phố C, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12.
- Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không.
- Họ và tên bố: Nông Văn M, sinh năm 1986 (đã chết).
- Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1986 (đã chết).
- Anh, chị em ruột: bị cáo là con duy nhất.
- Vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, hiện tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1.Cháu Lý Hùng Q, sinh ngày 16/5/2009 (vắng mặt).
Nơi thường trú: thôn Trạm, xã Sa Lý, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi ở: TDP My Điền 2, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Q:
Bà Lý Thị M1, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn T, xã S, tỉnh Bắc Ninh.
2.2.Cháu Triệu Văn Đ, sinh ngày 14/12/2007 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn N, xã S, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Đ:
Ông Triệu Tiến M2, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn N, xã S, tỉnh Bắc Ninh.
2.3.Cháu Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 25/8/2009 (vắng mặt).
Nơi cư trú: TDP Bãi Dài C, phường C, tỉnh Bắc Ninh
- Người đại diện theo pháp luật của cháu T:
Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Nơi cư trú: TDP Bãi Dài C, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
2.4. Anh Vi Văn Đ1, sinh năm 2006 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
2.5. Anh Vi Thái S, sinh năm 2007 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 27/4/2025, Nông Thiện N, sinh năm 2006, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) nhắn tin qua ứng dụng Facebook Mesenger từ tài khoản “Nghĩa H1” đến tài khoản “Lãnh Hoàng” của Hoàng Văn L, sinh năm 2006, trú tại thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) đòi Lãnh số tiền 850.000 đồng do L nợ N trước đó. Lãnh nhắn tin trả lời N về việc Vi Thái S, sinh ngày 17/7/2007, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã B, tỉnh Bắc Ninh) có nợ L số tiền 500.000 đồng, đồng thời L gửi cho N tài khoản Facebook M3 “S bé” của S nhờ N đòi số tiền này của S. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/4/2025, N nhắn tin qua ứng dụng Facebook Mesenger từ tài khoản “Nghĩa Híp” của N đến tài khoản “S bé” của anh Vi Thái S đòi anh S số tiền 500.000 đồng. Anh S cho rằng anh S không nợ tiền Hoàng Văn L và không đồng ý trả tiền cho N, dẫn đến việc giữa N và anh S lời qua tiếng lại với nhau. Nghĩa nhắn tin hẹn gặp anh S tại khu vực bờ hồ K để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Hẹn với anh S xong, N gọi điện cho bạn là Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 25/8/2009, trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh) rủ T đi đánh nhau cùng N, T đồng ý và gửi cho N vị trí khu trọ T đang ở qua ứng dụng Zalo. Sau đó, N mang theo 01 con dao (loại dao mèo, dài khoảng 80cm, phần chuôi dao làm bằng gỗ dài khoảng 20cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 60cm, bản rộng khoảng 04cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn) quấn vào bên trong 01 chiếc áo mưa để làm hung khí đánh nhau rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision không gắn biển số đi đến khu nhà trọ T đang trọ ở tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) đón T. T cầm theo 01 con dao (loại dao mèo dài khoảng 50cm, phần chuôi dao dài khoảng 10cm; phần lưỡi dao bằng kim loại, dài khoảng 40cm, bản rộng khoảng 04cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn) xuống cổng phòng trọ gặp N, đưa dao cho N cầm. T quay vào phòng trọ, thấy Lý Hùng Q, sinh ngày 16/5/2009, trú tại thôn T, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã S, tỉnh Bắc Ninh) và Triệu Văn Đ, sinh ngày 14/12/2007, trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã S, tỉnh Bắc Ninh), T rủ Q và Đ đi chơi cùng (không nói là đi đánh nhau), Q và Đ đồng ý. N cầm con dao T đưa cho rồi quấn vào bên trong chiếc áo mưa cùng với con dao của N mang đi trước đó và để dựng đứng ở vị trí để chân phía trước xe mô tô (mục đích không để người khác nhìn thấy 02 con dao N và T mang theo). Sau khi T, anh Q và anh Đ đi đến chỗ N đang đứng đợi, N điều khiển xe mô tô của N chở T đi trước; anh Q điều khiển xe mô tô chở anh Đ đi phía sau đến khu vực bờ hồ Khu Công nghiệp V thì dừng xe lại, cả nhóm ngồi uống nước ở đó đợi anh S đến. Quá trình di chuyển từ phòng trọ đến khu vực bờ hồ Khu Công nghiệp V, nhóm của N điều khiển xe mô tô đi với tốc độ bình thường; không lạng lách, đánh võng; N vẫn để hai con dao bọc bên trong áo mưa. Ngồi uống nước tại khu vực bờ hồ Khu Công nghiệp V đợi anh S khoảng 10 phút nhưng không thấy anh S đến nên N gọi điện cho anh S; anh S hẹn gặp N tại khu vực bãi đất trống rìa đường Q, đối diện cổng Khu công nghiệp V thuộc địa phận tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). N điều khiển xe mô tô chở T đến địa điểm như đã hẹn với anh S, Q điều khiển xe mô tô chở Đ đi theo sau.
Sau khi hẹn N để giải quyết mâu thuẫn, anh S rủ bạn cùng phòng trọ là anh Vi Văn Đ1, sinh năm 2006, trú tại thôn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh) đi cùng. Anh Đ1 điều khiển xe mô tô chở anh S đi từ nhà trọ ở phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường P, tỉnh Bắc Ninh) đến điểm hẹn gặp N tại khu vực bãi đất trống rìa đường Q, đối diện cổng Khu công nghiệp V; khi đi, anh S và anh Đ1 không mang theo hung khí gì. Khi đến khu vực bãi đất trống, anh Đ1 xuống xe, đi tìm và nhặt được 01 viên gạch ở rìa đường, sau đó anh Đ1 mang viên gạch này đến để lên trên khung xe mô tô; tiếp đến, anh Đ1 nhặt một cành cây (dài khoảng 01m; đường kính khoảng 03cm) cầm trên tay để phòng vệ cho bản thân nếu bị nhóm của N đánh.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, nhóm của N đi đến điểm hẹn với anh S. N điều khiển xe mô tô chở T đi thẳng đến gần vị trí anh S và anh Đ1 đang đứng, đỗ xe mô tô trên đường (phía sau một chiếc xe ô tô Bus đang dừng đỗ); Q điều khiển xe mô tô chở Đ đi phía sau và dừng lại tại vị trí cách vị trí anh S và anh Đ1 đang đứng khoảng 05m. N và T xuống xe rồi N lấy 02 con dao được bọc bên trong chiếc áo mưa ra, sau đó N đưa con dao dài khoảng 80 cho T cầm, còn N cầm con dao dài khoảng 50cm. N và T mỗi người cầm 01 con dao trên tay, giơ dao lên đe dọa và đuổi đánh anh S và anh Đ1 đang cầm cành cây trên tay. Thấy N và T cầm dao, anh Đ1 và anh S bỏ chạy; anh S chạy về phía bãi đất trống (cách vị trí anh S và anh Đ1 đứng trước đó khoảng 10m); anh Đ1 chạy xuống lòng đường Quốc lộ 37. T cầm dao đuổi theo anh Đ1 chạy ra phía giữa đường; khi T đứng sát lề đường, còn anh Đ1 đứng trên mặt đường Q, đối diện và cách T khoảng 01m thì T dùng tay phải cầm dao mang theo chém một nhát từ trên xuống dưới và trái sang phải trúng vào mũ bảo hiểm anh Đ1 đang đội trên đầu làm nứt mũ bảo hiểm, đâm sâu vào phần đỉnh đầu bên phải của anh Đ1 làm rách da đầu. Anh Đ1 tiếp tục bỏ chạy ra phía khu vực giữa đường, T tiếp tục đuổi anh Đ1 ra khu vực giữa đường được khoảng 3m, đồng thời giơ dao lên dọa chém anh Đ1; anh Đ1 đi lùi lại phía sau và cầm cành cây khua về phía T để phòng vệ. Cùng lúc này, N cầm 01 con dao trên tay, giơ dao lên đuổi theo anh S về phía bãi đất trống; anh S chạy được khoảng 3m thì dừng lại, N cầm dao hướng phần mũi dao về phía người anh S yêu cầu anh S quỳ gối xuống đất; do sợ nên anh S quỳ gối xuống đất và nói xin lỗi N. Sau đó, N cầm dao đuổi theo anh Đ1 ra phía giữa đường cùng với T và yêu cầu anh Đ1 vứt cành cây anh Đ1 đang cầm trên tay đi, anh Đ1 vứt cành cây xuống khu vực rìa đường. T và N cầm dao đi về phía anh S, hai bên nói chuyện giảng hòa với nhau; N hẹn anh Đ1 và anh S đến khu vực bờ hồ Khu công nghiệp V để tiếp tục nói chuyện giải quyết mâu thuẫn nhưng Đ1 và S không đi. Sau đó, nhóm của N đi về phòng trọ của T. Khi về đến phòng trọ của T, T đưa con dao T đang cầm cho N, N mang 02 con dao về khu vực bờ mương (phía sau khu trọ N đang ở trọ) thuộc khu dân cư Đ, tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) cất giấu.
Khi sự việc diễn ra, có một số phương tiện đi trên đường đã dừng lại xem, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự công cộng, ảnh hướng đến quá trình giao thông trên đường. Một người dân đi qua đường đã quay video ghi lại diễn biến một phần nội dung vụ việc, sau đó đăng tải đoạn video này lên trang mạng xã hội Facebook “Bắc Ninh mới”. Đoạn video này đã được lan truyền trên mạng xã hội Facebook với nhiều lượt chia sẽ, theo dõi và bình luận, trong đó có nhiều bình luận có nội dung tiêu cực, gây bức xúc.
Ngày 24/5/2025, anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) có đơn gửi đến Công an phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, trình báo về việc: Trong quá trình theo dõi trang mạng xã hội Facebook, anh H2 có xem được hình anh video trên trang Facebook “Bắc Ninh mới” có video ghi lại diễn biến nội dung vụ việc một số đối tượng tập trung tại khu vực bãi đất trống rìa đường Q, đối diện cổng Khu công nghiệp V thuộc phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) cầm theo dao đuổi đánh nhau, gây mất an ninh trật tự. Đồng thời, anh H2 giao nộp cho cơ quan điều tra đoạn video ghi lại diễn biến nội dung sự việc nêu trên (do anh H2 tự thu thập trên mạng xã hội Facebook).
Ngày 26/5/2025, Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra điều tra làm rõ và xử lý các đối tượng có hành vi gây rối trật tự công cộng nêu trên.
Ngày 25/5/2025, Công an phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, xác định: hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại bãi đất trống tiếp giáp với đường Q thuộc tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); phía Bắc giáp với quán nước, cách đường dân sinh đến khu nhà ở xã hội. Kiểm tra, rà soát nơi xảy ra sự việc không phát hiện, thu giữ dấu vết, đồ vật gì có liên quan đến vụ việc.
Ngày 13/6/2025 và ngày 18/6/2025, Cơ quan điều tra tổ chức cho Nguyễn Mạnh T, anh Lý Hùng Q, anh Triệu Văn Đ nhận dạng qua ảnh đối với Nông Thiện N; kết quả: T, anh Q và anh Đ đều nhận dạng được người trong ảnh số 2 (là Nông Thiện N) là người đã cùng Nguyễn Mạnh T thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và gây thương tích cho anh Vi Văn Đ1 vào ngày 28/4/2025 như trên.
Ngày 20/11/2025, Cơ quan điều tra tổ chức cho Nguyễn Mạnh T thực nghiệm điều tra, diễn lại hành vi T dùng dao chém gây thương tích cho anh Vi Văn Đ1; kết quả: T đã thực hiện được các động tác sử dụng tay phải cầm 01 con dao chém phần lưỡi dao vào đầu anh Đ1 khi anh Đ1 đang đội mũ bảo hiểm như diễn biến vụ việc.
Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định xác định nội hình ảnh trong video trên trang “Bắc Ninh mới” do anh Hoàng Văn H2 cung cấp có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không. Tại Kết luận giám định số 2678KL-KTHS ngày 02/10/2025 của Phòng K- Công an tỉnh B, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.
Ngày 23/9/2025, Cơ quan điều tra tổ chức cho Nông Thiện N và Nguyễn Mạnh T xem lại nội dung đoạn video nếu trên, kết quả: N và T đều xác nhận hình ảnh trong đoạn video là hình ảnh N và T đang có hành vi gây rối trật tự công cộng và dùng dao chém gây thương tích cho Đ1 như diễn biến vụ việc nêu trên.
*Tại Bản cáo trạng số 229/CT-VKS ngày 01/4/2026, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Nông Thiện N về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Thiện N từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH: Buộc bị cáo Nông Thiện N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Phần tranh luận: bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Bắc Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi: Lời khai của bị cáo Nông Thiện N tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ khoảng 11 giờ đến 11 giờ 15 phút ngày 28/4/2025, tại đường Q và khu vực bãi đất trống rìa đường Q, đối diện với cổng Khu công nghiệp V thuộc địa phận là tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Bị cáo Nông Thiện N đã cùng với Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 25/8/2009, trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh) cầm trên tay 02 con dao (trong đó: N cầm theo 01 con dao dài khoảng 50cm, phần chuôi dao dài khoảng 10cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 40cm, bản rộng khoảng 04cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn; T cầm theo 01 con dao dài khoảng 80cm, phần chuôi dao làm bằng gỗ dài khoảng 20cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 60cm, bản rộng khoảng 04cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn) đuổi theo anh Vi Thái S, sinh ngày 17/7/2007, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã B, tỉnh Bắc Ninh) và anh Vi Văn Đ1, sinh năm 2006, trú tại thôn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã B, tỉnh Bắc Ninh). Thấy N và T cầm dao, anh S bỏ chạy về phía bãi đất trống ở rìa đường Quốc lộ 37, anh Đ1 chạy xuống lòng đường Quốc lộ 37. T cầm dao đuổi theo anh Đ1 chạy ra phía giữa đường và dùng dao mang theo chém 01 nhát về phía người anh Đ1 trúng vào mũ bảo hiểm anh Đ1 đang đội trên đầu làm nứt mũ bảo hiểm, đâm sâu vào phần đỉnh đầu bên phải của anh Đ1 gây nên vết thương rách da đầu; sau đó T cùng N tiếp tục cầm dao đuổi anh Đ1 ra khu vực giữa đường và giơ dao lên dọa chém anh Đ1. Cùng lúc này, N cầm 01 con dao trên tay, giơ dao lên và đuổi theo anh S đang chạy về phía bãi đất trống; khi anh S dừng lại, N cầm dao hướng phần mũi dao về phía người anh S yêu cầu anh S quỳ gối xuống đất và nói xin lỗi N.
Sự việc xảy ra tại khu vực đường Q, đối diện với cổng Khu công nghiệp V là nơi có nhiều người qua lại, gây mất an ninh trật tự công cộng, an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến quá trình tham gia giao thông của các phương tiện trên Quốc lộ C. Đoạn video được người dân quay, ghi lại hình ảnh diễn biến một phần nội dung vụ việc, sau đó đăng tải lên trang mạng xã hội Facebook, bài đăng đã được lan truyền với nhiều lượt chia sẽ, theo dõi và bình luận, trong đó có nhiều bình luận của người dân phản ánh tiêu cực, có nội dung gây bức xúc, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại Khu công nghiệp.
Bị cáo Nông Thiện N đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có hành vi dùng dao gây mất an ninh trật tự địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 -Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do ham chơi, không chịu lao động, bị cáo đã có hành vi dùng dao gây mất an ninh trật tự địa phương, cố ý gây phá vỡ an ninh, trật tự nơi công cộng, gây hậu quả xấu cho xã hội. Xét thấy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không có
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Nông Thiện N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét về về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
-Về nhân thân: Bị cáo Nông Thiện N chưa có tiền án, tiền sự.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Thiện N (là người trên 18 tuổi) biết rõ Nguyễn Mạnh T là người dưới 18 tuổi nhưng vẫn rủ cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với anh Vi Văn Đ1 bị T dùng dao chém vào đầu gây nên vết thương rách da, chảy máu ở vùng đầu phía bên phải; được anh Vi Thái S đưa đến Trạm Y tế phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) khâu vết thương, tuy nhiên Trạm Y tế phường V không vào sổ theo dõi, không có giấy xác nhận đã khâu vết thương cho anh Đ1; ngoài ra, anh Đ1 không điều trị vết thương tại cơ sở y tế nào khác. Ngày 29/9/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của Vi Văn Đ1, xác định: tại vùng đầu bên phải của anh Đ1 có một vết sẹo dài 05cm. Cùng ngày, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Trung tâm P- Sở Y tế tỉnh B giám định xác định tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Đ1, thương tích của anh Đ1 do vật gì gây nên, lực tác động. Tuy nhiên, tại Trung tâm P, anh Đ1 xác định vết thương do T gây nên cho anh nhẹ, anh Đ1 không phải nằm điều trị vết thương tại cơ sở Y, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên anh Đại từ C giám định thương tích và không đề nghị xử lý các đối tượng đã gây thương tích cho anh. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý về hình sự đối với Nông Thiện N và Nguyễn Mạnh T về hành vi cố ý gây thương tích cho anh Đ1. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Ngày 01/4/2026, Viện kiểm sát đã có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra làm thủ tục đề nghị Văn phòng Cơ quan điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nông Thiện N về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội là có căn cứ.
Đối với 02 con dao do Nông Văn N1 và Nguyễn Mạnh T sử dụng khi phạm tội, sau khi sự việc kết thúc T đưa cho N1; N1 khai đã mang 02 con dao này đến khu vực bờ mương thuộc khu dân cư Đ, tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) cất giấu tại đó, sau đó N1 quay lại tìm dao nhưng không thấy. Ngày 23/8/2025, Cơ quan điều tra đã tổ chức cho N1 xác định vị trí N1 đã cất giấu dao, đồng thời rà soát và tìm kiếm 02 con dao này; kết quả: không tìm thấy con dao nào tại khu vực bờ mương thuộc Khu dân cư Đ thuộc tổ dân phố P, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Ngày 11/02/2026, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định xác định 02 con dao N1 và T sử dụng khi phạm tội (có đặc điểm như N1, T, anh Đ1 và những người làm chứng mô tả nêu trên) có thuộc danh mục nào trong Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C2 quy định chi tiết một số điều luật của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ không. Tại văn bản số 119/PC09 ngày 22/02/2026 của Phòng K- Công an tỉnh B, trả lời: Do không có mẫu vật gửi giám định kèm theo Quyết định trưng cầu giám định nên Phòng K từ chối giám định.
Khi anh Lý Hùng Q và anh Triệu Văn Đ được Nguyễn Mạnh T rủ đi chơi, anh Q và anh Đ không biết việc T cùng với Nông Thiện N đi tìm anh Vi Thái S để đánh nhau; khi đi cùng N và T, anh Q và anh Đ không biết việc N và T có mang theo dao; khi xảy ra sự việc, Q và Đ chỉ đứng xem, không có lời nói, hành động gì giúp sức N và T. Do vậy, Q và Đ không đồng phạm với N và T về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích” , nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với hành vi của anh Vi Thái S và anh Vi Văn Đ1 hẹn gặp N để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn, không có hành vi chuẩn bị hung khí từ trước để đánh nhau. Đến điểm hẹn, anh S và Đ1 bị N và T cầm theo dao đuổi đánh; sau khi bị T chém, Đ1 cầm cành cây nhặt được tại hiện trường khua về phía T để tự vệ. Do đó, hành vi của anh S và anh Đ1 không vi phạm pháp luật. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 28/4/2025), Nguyễn Mạnh T (15 năm 8 tháng 03 ngày tuổi) chưa đủ 16 tuổi nên T không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Bắc Ninh áp dụng biện pháp quản lý và giáo dục tại địa phương là có căn cứ, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án:
-Chiếc điện thoại di động Nông Thiện N sử dụng gọi cho Nguyễn Mạnh T rủ T đi đánh nhau và nhắn tin hẹp gặp anh Vi Thái S, sau đó xảy ra sự việc là chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus; chiếc điện thoại này, N khai đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Chiếc điện thoại di động Nguyễn Mạnh T sử dụng nghe khi Nông Thiện N gọi cho T rủ T đi đánh nhau, sau đó chiếc điện thoại này đã bị hỏng không sử dụng được, T đã vứt đi nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision không gắn biển số, N sử dụng để chở T đi đánh nhau. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này do N mượn của một người bạn không rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể; sau đó, N đã trả lại xe cho người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và thu giữ. Nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Không có
Về hình phạt bổ sung: Không có
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH: Buộc bị cáo Nông Thiện N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Thiện N 02 (Hai) năm 09 (C1) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH: Buộc bị cáo Nông Thiện N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
- Công an tỉnh Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh ;
- VKSND Khu vực 2 -Bắc Ninh;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Nguyễn Thị Sự Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Hiệp Hòa;
- Công an huyện Hiệp Hòa;
- Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
- Trại tạm giam;
- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Nguyễn Thị Sự THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Sự
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - Công an huyện Hiệp Hòa; - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa; - Trại tạm giam; - Bị cáo, bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sự THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sự |