vanban.org

Bản án 150/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim N Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn Í.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn - nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 14/5/2026
V/v:“Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Khương Duy;

2. Bà Nguyễn Kim Thoại

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.

Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 439/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2026/QĐXX-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2026/QĐST – HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp 6, xã G, tỉnh An Giang.

(Chị N có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Í, sinh năm 1979

Địa chỉ: Ấp V, xã L, tỉnh An Giang.

(Anh Í vắng mặt lần 2 không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2025 nguyên đơn chị Lê Thị Kim N trình bày: Vào năm 2006 chị và anh Nguyễn Văn Í cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 14//7/2014.

Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2023 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và nguyên nhân chủ yếu vấn đề kinh tế. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay.

Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh Í nên chị quyết định ly hôn với anh Í.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Í có 02 con chung tên Nguyễn Tâm N1, sinh ngày 09/3/2008 và Nguyễn Lê M, sinh ngày 28/10/2010 hiện nay đang sống cùng chị.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Lê Thị Kim N yêu cầu:

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Í

- Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Tâm N1, sinh ngày 09/3/2008 và Nguyễn Lê M, sinh ngày 28/10/2010 và không yêu cầu anh Í cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Í: Đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Í đều không có mặt.

Tại phiên tòa chị N vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt còn anh Í vắng mặt lần 2 không lý do.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị N khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh Í có địa chỉ ấp V, xã L, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang đã triệu tập hợp lệ chị N và anh Í tham gia phiên tòa nhưng các đương sự đều vắng mặt và chị N có đơn xin vắng mặt còn anh Í vắng mặt lần 2 không lý do nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng chị N và anh Í là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị N và anh Í kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2014 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2023 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị N nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống và thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Thực tế vợ chồng anh chị đã sống trong tình trạng ly thân trong thời gian từ năm 2023 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh Í không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh Í đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N và anh Í đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Í để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh Í là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị N xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng chị có 02 con chung tên Nguyễn Tâm N1, sinh ngày 09/3/2008 và Nguyễn Lê M, sinh ngày 28/10/2010. HĐXX xét thấy từ khi vợ chồng sống ly thân với nhau đến nay cháu N1, cháu M sống cùng chị N và chị N cũng có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1, cháu M đồng thời cũng phù hợp theo nguyện vọng của các con. Do đó, cần tiếp tục giao cháu N1, cháu M cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị N xác định không yêu cầu anh Í cấp dưỡng mặc dù chị N đã được Tòa án đã giải thích về quyền yêu cầu về quyền, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, xét thấy việc chị N không yêu cầu anh Í cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị N xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[6] Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị N xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim N

2. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn Í.

3. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Tâm N1, sinh ngày 09/3/2008 và Nguyễn Lê M, sinh ngày 28/10/2010 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng (Phù hợp theo nguyện vọng của con). Chị N không yêu ầu anh Í cấp dưỡng nuôi con.

Anh Í có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Chị N phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0010200 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh A; Chị N không phải nộp thêm.

“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

7. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ