vanban.org

Bản án 150/2025/DSPT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 03/04/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị Út .

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số:12/2025/DS-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D. Buộc bà Hồ Thị Ú có nghĩa vụ trả cho ông Trương Văn D 05 (năm) chỉ vàng 24k. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Trương Văn D - Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị Út .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2025/DS-PT
Ngày 03 – 4 – 2025
Về việc tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hùng Quang.

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Hải Hà.

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Điện – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc đòi lại tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST Ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 87/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Bà Hồ Thị Ú, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Hồ Thị Ú là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Trương Văn D trình bày: Ngày 29/9/2002 vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị Ú có hỏi vay của ông 10 chỉ vàng 24k, lãi suất thỏa thuận 0,5 chỉ vàng 24k/tháng. Sau khi vay thì ông T, bà Ú trả được 04 tháng lãi bằng 02 chỉ vàng 24k. Đến ngày 09/10/2004 bà Ú có yêu cầu ông bắt heo để trừ nợ, nhưng do thấy hoàn cảnh kinh tế của bà Ú khó khăn nên ông không trừ nợ mà trả tiền mặt cho bà Ú. Đến ngày 01/3/2015 bà Ú có yêu cầu ông nhận tiền hụi mà bà Út L của ông K là 9.390.000 đồng tương đương với 03 chỉ vàng 24k. Từ đó đến nay vợ chồng ông T, bà Ú hứa hẹn nhưng không trả 07 chỉ vàng 24k còn lại, mặc dù đã có điều kiện trả nợ. Nay ông yêu cầu ông T, bà Ú có nghĩa vụ trả cho ông 07 chỉ vàng 24k vốn, không yêu cầu tính lãi.

- Bà Hồ Thị Ú trình bày: Do quen biết nên vợ chồng bà có mượn của ông Trương Văn D 10 chỉ vàng 24k, chứ không phải vay và không trả 02 chỉ vàng lãi như ông D trình bày. Năm 2008 bà và ông T ly hôn và có thỏa thuận bà nhận tài sản, có nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ, trong đó có ông D. Đến năm 2015 thì bà có lĩnh hụi và trả cho ông D tương đương bằng 03 chỉ vàng 24k, năm 2016 bà mượn của ông Hồ Tấn N (đã chết) 05 chỉ vàng 24k để trả cho ông D. Năm 2017 bà nuôi heo, ông D qua hai lần bắt 04 con heo để trừ nợ. Như vậy bà đã trả đủ 10 chỉ vàng 24k cho ông D nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông D.

Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của ông D; không tham gia hòa giải, xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Tuyên xử

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D. Buộc bà Hồ Thị Ú có nghĩa vụ trả cho ông Trương Văn D 05 (năm) chỉ vàng 24k. Đình chỉ một phần yêu cầu của ông Trương Văn D về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T cùng bà Hồ Thị Ú trả 07 chỉ vàng 24k

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hồ Thị Út .

Ông Trương Văn D phải chịu là 462.500 đồng (tám trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Ông D đã nộp 1.507.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002086 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, ông D được hoàn lại số tiền chênh lệch 1.080.500 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, yêu cầu thi hành án của đương sự.

(Sau khi xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi có Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 02/2025/QĐ-SCBSBA cùng ngày).

Ngày 22/01/2025, bà Hồ Thị Ú kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn giữ nguyên kháng cáo cho là đã trả xong khoản nợ cho ông D hiện nay không còn nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của Hồ Thị Ú còn trong thời hạn luật định.

Bà Ú thừa nhận vợ chồng có mượn ông D 10 chỉ vàng 24k. Bà Ú xác định đã thanh toán xong, cụ thể năm 2015 trả 03 chỉ vàng 24k, năm 2016 bà vay ông Hồ Tấn N để trả 05 chỉ vàng 24k, năm 2017 ông D bắt 4 con heo con tương đương 02 chỉ. Nay bà không còn nợ.

Ông D thừa nhận có nhận 03 chỉ vàng và bắt hai con heo con tương đương khoảng 01 chỉ vàng 24k. Tổng cộng là 4 chỉ vàng ngoài ra không thừa nhận khoản nào khác. Tại phiên tòa sơ thẩm ông D có thay đổi chỉ yêu cầu trả 5 chỉ vàng. Đối với việc yêu cầu ông T cùng có trách nhiệm thanh toán, nay ông rút lại yêu cầu này, chỉ buộc bà Ú thanh toán 5 chỉ vàng 24k.

Xét thấy việc ông D bắt heo để trừ nợ là có nhưng các bên không có chứng cứ, chứng minh việc bắt 04 con heo trị giá 02 chỉ vàng hay là 02 con heo trị giá 01 chỉ vàng. Song, tại tòa sơ thẩm ông D thay đổi đồng ý giảm cho bà Ú 01 chỉ vàng. Như vậy ông D chỉ yêu cầu bà Ú thanh toán 5 chỉ vàng còn lại. Đối với bà Ú cho là đã vay vàng của ông Hồ Tấn N để thanh toán 5 chỉ cho ông D, hiện nay ông N đã chết. Xét thấy việc thanh toán này không có tài liệu chứng cứ, chứng minh, ông D cũng không thừa nhận, nên án sơ thẩm buộc bà Ú thanh toán tiếp cho ông D 05 chỉ vàng là có căn cứ.

Tại phiên tòa bà Ú cũng không đưa ra được chứng cứ tài liệu nào để chứng minh cho việc thanh toán 5 chỉ vàng, cho nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Ú.

Tuy nhiên án sơ thẩm tuyên, chấp nhận một phần yêu cầu của ông D buộc bà Ú thanh toán 5 chỉ vàng, đình chỉ một phần yêu cầu của ông D yêu cầu ông T, bà Ú cùng trả 7 chỉ vàng 24k cho ông D là chưa đúng. Lẽ ra án sơ thẩm chỉ cần tuyên chấp nhận yêu cầu của ông D, buộc bà Ú trả ông D 5 chỉ vàng 24k. Việc đình chỉ yêu cầu của ông D là do đơn kiện ông D yêu cầu phần trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán của ông T với bà Ú, nhưng qua trình bày của bà Ú, ông D chỉ yêu cầu bà Ú thanh toán, không yêu cầu ông T cùng có nghĩa vụ thanh toán, nên đình chỉ yêu cầu của ông D đối với yêu cầu ông T. Về phần án phí sơ thẩm buộc ông D phải chịu là chưa đúng, nên cần sửa bản án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu của ông D buộc bà Ú thanh toán cho ông D 5 chỉ vàng 24k. Đình chỉ yêu cầu của ông D với việc buộc ông T cùng có trách nhiệm với bà Hồ Thị Út .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi là chưa phù hợp với các phân tích trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ú là người cao tuổi nên được miễn án phí. Đối với yêu cầu của ông D được chấp nhận nên ông D không phải chịu án phí đã dự nộp số tiền 1.507.000 đồng được nhận lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ú là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị Út .

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số:12/2025/DS-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi:

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D. Buộc bà Hồ Thị Ú có nghĩa vụ trả cho ông Trương Văn D 05 (năm) chỉ vàng 24k.

Đình chỉ yêu cầu của ông Trương Văn D về việc buộc ông Nguyễn Văn T cùng có trách nhiệm thanh toán nợ với bà Hồ Thị Út .

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ú là người cao tuổi nên được miễn án phí. Ông Trương Văn D không phải chịu. Ngày 06/11/2024, ông D đã nộp dự tạm ứng án phí số tiền 1.507.000 đồng lai thu số 0002086 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ú là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ