vanban.org

Bản án 150/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Quỳnh G.

Hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh G được ly hôn anh Trịnh Chí H. Con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nguyên L, sinh ngày 31/5/2022 hiện nay đang sống chung với chị G, cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không cấp dưỡng nuôi con, được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Quỳnh G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 6 - 2024
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Kha

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Quỳnh G, sinh ngày 29/3/2000 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã H, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Trịnh Chí H, sinh ngày 26/10/2000 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường LTM, khóm T, phường V, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Quỳnh G là nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh G và anh Trịnh Chí H chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2022. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn về tiền bạc, anh Hiếu không lo làm ăn. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, chị G không còn tình cảm với anh H và đã ly thân 01 năm. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Nguyễn Quỳnh G xác định chị và anh H có một người con chung tên Nguyễn Nguyên L, sinh ngày 31/5/2022. Hiện nay cháu L đang sống chung với chị G. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị G xác định không có.

Về nợ chung: Chị G xác định không có.

- Đối với anh Trịnh Chí H mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đối với anh Trịnh Chí H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh G và anh Trịnh Chí H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2022, nên quan hệ hôn nhân của chị G và anh H là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Xét thấy trong quá trình chung sống, chị G xác định thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn về tiền bạc, anh H không lo làm ăn. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, chị G không còn tình cảm với anh H và đã ly thân 01 năm nên chị G yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Về phía anh H mặc dù đã được tống đạt hợp lệ và biết được chị G yêu cầu ly hôn nhưng anh không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình cho Tòa án. Chứng tỏ rằng việc mâu thuẫn trong gia đình của cả hai là thực sự tồn tại và không thể hàn gắn, không ai có ý muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G cho chị được ly hôn với anh H.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Quỳnh G xác định có một người con chung tên tên Nguyễn Nguyên L, sinh ngày 31/5/2022. Hiện nay cháu L đang sống chung với chị G. Khi ly hôn, chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy hiện nay cháu L còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ và đang được chị Giao nuôi dưỡng. Để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về tinh thần và thể chất của cháu L, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu L cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng. Chị G không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

[4] Về tài sản chung: Không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình chị Nguyễn Quỳnh G phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Quỳnh G.

- Hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh G được ly hôn anh Trịnh Chí H.

- Con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nguyên L, sinh ngày 31/5/2022 hiện nay đang sống chung với chị G, cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không cấp dưỡng nuôi con, được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Nguyễn Quỳnh G phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 03/5/2024 chị G đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0008559 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Quỳnh G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trịnh Chí H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ