- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Danh Thị Mỹ D với anh Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Danh Thị Mỹ D ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08-9-2023 V/v: Ly hôn giữa chị D và anh N |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dũng
2. Bà Phạm Hồng Gái
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Không tham gia
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 82/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Danh Thị Mỹ D, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp S, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 27/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Danh Thị Mỹ D trình bày: Vào năm 2012, chị D và anh Nguyễn Văn N quen biết nhau là do mai mối và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên chị và anh N tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 19/5/2017. Trong quá trình chung sống chị và anh N có 01 người con chung tên Nguyễn Danh Hoàng P, sinh ngày 20/6/2018, hiện đang sống cùng chị D. Về tài sản chung, nợ chung thì không có.
Chị D xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không hợp nhau, vợ chồng thường hay cãi vã nhau, anh N không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt nên chị và anh N đã ly thân từ đó cho đến nay, chị nhận thấy tỉnh cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Chị D xin được ly hôn cùng anh N
Về việc nuôi con chung: Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hoàng P cho đến khi cháu trưởng thành và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến trình bày tại Tòa.
Tại phiên tòa chị D, anh N vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Danh Thị Mỹ D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang giải quyết việc hôn nhân của anh chị. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm 4 khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị D và anh N nhưng anh, chị vắng mặt tại phiên tòa, riêng chị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh N chung sống với nhau vào năm 2012 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 19/5/2017, do đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị D, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu, chị và anh N chung sống hạnh phúc trên cơ sở hôn nhân tự nguyện và có với nhau 01 (một) người con chung tên Nguyễn Danh Hoàng P, sinh ngày 20/6/2018. Tuy nhiên, kể từ năm 2018, giữa chị và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chung sống không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, khiến cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, hiện tại chị và anh N sống ly thân, cuộc sống của ai người đó tự lo. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.
Về việc nuôi con chung: Chị D và anh N có 01 con chung tên Nguyễn Danh Hoàng P, sinh ngày 20/6/2018, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con vì chị có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi con được.
Xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân, cháu Hoàng P sống với chị D, chị D vẫn đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần cho con, do đó Hội đồng xét xử xét nên giao cháu Hoàng P cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị D cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D có ý kiến không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, anh N không có ý kiến trình bày tại Tòa và không có yêu cầu phản tố, do đó Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh N đúng theo quy định pháp luật nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa chị D và anh N được. Mặt khác, tại Toà án chị D xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh N, anh chị không có tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn chị D yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị D phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56, các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 35, 39 và Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Danh Thị Mỹ D ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Danh Hoàng P, sinh ngày 20/6/2018 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị D cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Danh Thị Mỹ D không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Danh Thị Mỹ D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Danh Thị Mỹ D phải nộp 300.000 đồng nhưng chị D được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000110 ngày 19-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, chị D không phải nộp thêm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
6. Quyền kháng cáo: Chị Danh Thị Mỹ D và anh Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Hòn Đất; - CCTHADS huyện Hòn Đất; - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - UBND xã Nam Thái Sơn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Thị Quyên |