vanban.org

Bản án 150/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích P; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Thanh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 150/2022/HSST
Ngày 25 tháng 10 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Lang

Ông Nguyễn Văn Tài

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tuấn Kiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Minh T; sinh ngày 10/5/1990; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 005 Lô D, cư xá T Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi ở ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn T (đã chết) Họ tên mẹ: Hà Thị Kim H, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người thừ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 26/01/2010 bị Tòa án nhân dân quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 04/2010/HSST) đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí, nên đã được xóa án tích. Ngày 16/5/2013 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 94/2013/HSST) đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí, nên đã được xóa án tích. Ngày 21/10/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 01 tháng tù (Bản án số 637/2013/HSST) đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí, nên đã được xóa án tích; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày: 01/4/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Bích P; sinh ngày 26/5/1999; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 70/8 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không có; Họ tên cha: Trần Văn Đ (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích N (đã chết); Anh, chị, em: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Chồng: Vũ Khôi Q (đã chết); Con: Có một con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 16/01/2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đã chấp hành xong hình phạt, chưa đóng án phí và tiền thu lợi bất chính là 106.000 đồng (một trăm lẽ sáu ngàn đồng) (bản án số 11/2018/HSST ngày 16/01/2018). Do bị cáo phạm tội trong độ tuổi vị thành niên, nên đương nhiên được xóa án tích; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 01/4/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Thị Như N; sinh ngày 21/8/1989; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi ĐKHKTT: 765/67 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 79/24 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Thợ uốn tóc; Họ tên cha: Nguyễn Giang Ch, sinh năm 1969; Họ tên mẹ: Dương Thị D, sinh năm 1969; Anh, chị, em có 02 người bị cáo là người lớn nhất trong gia đình; Chồng: Chưa có; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 18/9/2021 bị Công an quận Bình Thạnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.650.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 31/3/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

1. Bị hại:

- Anh Võ T Nhật H

Địa chỉ: 62/26 Nhất Chi Mai, phường 13, quận Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

- Anh Đỗ Duy Nhật H

Địa chỉ: số 02 đường 62, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh

- Nguyễn Tấn Ph

Địa chỉ: 009 lô 8 cư xá T Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Minh N (xe Drean biển số 51F2-7245) xe đã trả lại cho bà Nga.

Địa chỉ: 337C Đinh Bộ Lĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

2. Ông Nguyễn N Q

Địa chỉ: 206 Quốc Lộ 13, phường 26, quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

3. Nguyễn Thị Trà M

Địa chỉ: 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, TP.HCM

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa; Các bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Bích P là bạn bè quen biết nhau từ trước. P thuê nhà trọ tại phòng 201 nhà trọ số 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình Thạnh từ ngày 21/02/2022.

Khoảng 02 giờ ngày 24/02/2022, P điện thoại nói cho T biết ở chỗ để xe bên nhà trọ của P tại số 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình T có xe đang còn cắm chìa khóa trên xe và không có ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, P rũ T qua lấy trộm xe để bán kiếm tiền chia nhau tiêu xài thì T đồng ý. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T điều khiển xe gắn máy Honda Dream, biển số 51F2-7245 chạy đến nhà trọ của P tại số 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình Thạnh, khi đi T đem theo 01 cây đoản để bẻ khóa xe. Khi đến nơi, T điện thoại cho P, P liền đi xuống mở cửa nhà trọ để T đi vào trong, còn P đi ra ngoài đứng đợi T. T đi bộ vào chỗ để xe của khu nhà trọ lấy trộm chiếc xe gắn máy Wave RSX màu trắng biển số 86B3-067.94 của anh Võ T Nhật Hiền đang cắm sẵn chìa khóa xe dẫn đi ra ngoài nổ máy chạy đi, còn P chạy xe Dream biển số 51F2-7245 của T, cả hai chạy xe đến hẻm 92 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, Quận Bình Thạnh và cất giấu xe gắn máy Wave RSX màu trắng biển số 86B3-06794 vừa trộm được ở ngoài đường đối diện nhà số 92/117/9 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 21, Quận Bình Thạnh. Sau đó, P chạy xe Dream biển số 51F2-7245 chở T quay lại nhà trọ của P để tiếp tục trộm xe. Đến đây, P đứng ngoài đợi để T đi bộ vào chỗ để xe nhà trọ T dùng đoản bẻ khóa công tắc xe Wave RSX màu xám đen biển số 79N1-627.19 của anh Đỗ Duy Nhật Hoàng rồi nổ máy xe chạy ra ngoài, còn P chạy xe Dream biến số 5IF-7245 tiếp tục chạy đến đối diện nhà số 92/117/9 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, quân Bình Thạnh để cất xe. Sau đó, T gọi điện cho một thành niên tên Tạ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để bán 02 xe vừa trộm cắp được, Tạ kêu T mang xe qua thành phố Thủ Đức coi xe rồi báo giá. Nghe vậy, T và P mỗi người điều khiển 01 chiếc xe Wave RSX vừa trộm được đến đối diện số 36 đường số 2, khu phố 4, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức gặp Tạ. Tạ coi xe và báo giá mua 02 chiếc trên với giá 6.500.000 đồng. T và P đồng ý, P đưa cho Tạ số tài khoản ngân hàng của P (không nhớ số tài khoản mở tại ngân hàng nào) để Tạ chuyển khoản số tiền 6.500.000 đồng bán 02 xe cho P. P chia lại cho T số tiền 3.000.000 đồng từ tiền bán xe, còn P giữ lại 3.500.000 đồng. Số tiền bán xe cả hai đã tiêu xài hết.

Quá trình điều tra xác định được Nguyễn Minh T còn cùng bạn gái là Nguyễn Thị Như N thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản, như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút 30/3/2022, T điều khiển xe Honda Dream, biển số 51F2-7245 chở N đi ăn uống tại chân cầu Kinh, phường 27, quận Bình Thạnh. Trong lúc ăn thì N nói với T là đang cần tiền tiêu xài, nghe vậy T liền rủ N đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài thì N đồng ý. Sau khi ăn xong. T điều khiển xe chở N về nhà T lấy 01 cây đoản để bẻ khóa xe rồi T chở N chạy lòng vòng khu vực Cư xá T Đa, Phường 27, quận Bình Thành tìm xe gắn máy để sơ hở, không có người trông coi để trộm cắp. Khi chạy ngang qua nhà số 009 Lô 8, Cư xá T Đa, phường 27, quận Bình Thạnh thì T và N nhìn thấy xe gắn máy Honda AirBlade, màu đen biển số 54S1-4950 của anh Nguyễn Tấn Phước đang để phía trước nhà, không có người trông coi nên T liền dừng xe lại cách khoảng 5m rồi T kêu N đứng chờ và cảnh giới, còn T đi bộ đến, dùng đoản bẻ khóa xe, nổ máy lấy trộm xe Honda Airblade, màu đen biển số 54S1-4950 chạy đi, N điều khiển xe Dream biển số 51F2-7245 chạy theo sau. Cả hai chạy đến bãi xe chợ T Đa, N đứng ngoài chờ, T vào bãi xe gửi xe Honda Airblade, màu đen biển số 54S1-4950 vừa trộm được. Sau đó T điều khiển gắn máy Honda Dream biển số 51F2-7245 chở N về nhà. Tiếp theo, T và N gọi điện cho Tạ để bán xe Honda AirBlade màu đen biển số 54S1-4950 vừa trộm được thì Tạ kêu T đem xe đến khu nhà Thành ủy, đường 18, Phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để xem xe và báo giá, T đồng ý. T điều khiển xe Honda AirBlade còn N điều khiển xe Honda Vision màu đỏ (không rõ biển số xe) của N chạy theo sau. Khi đến xem xe thì Tạ không đồng ý mua xe AirBlade biển số 54S1-4950 vì cho rằng xe quá cũ, Tạ yêu cầu được mua xe Vision màu đỏ không có giấy tờ mà N đang sử dụng với giá 6.000.000 đồng thì được N đồng ý. Tạ tháo đổi biển số xe giữa 02 xe Vision và AirBlade, khi Tạ vừa tháo xong biển số xe AirBlade thì Công an phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức tuần tra phát hiện nên cả 03 lên xe bỏ chạy. Tạ điều khiển xe Vision cầm theo biển số xe AirBlade chạy thoát, T chạy xe AirBlade chở N chạy đến đầu đường 18, Phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức thì do xe chạy yếu nên T nói N xuống xe, T điều khiển xe bỏ chạy, còn N xuống xe liền bị Công an phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức đưa về trụ sở làm việc. Do sự việc N cùng T trộm cắp xảy ra trên địa bàn quận Bình Thạnh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức chuyển N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Đến 07 giờ 30 phút ngày 01/4/2022. Nguyễn Minh T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Bình Thạnh đầu thú về hành vi cùng N trộm cắp tài sản và giao nộp xe AirBlade không có biển số, số khung RLHJF18007Y596297, số máy JF18E-5096145 mà T và N trộm được của anh Nguyễn Tấn Phước.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 132 ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình T, kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBlade không biển số màu đen, số khung RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E5096145 trị giá 4.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 135 ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình T, kết luận:

- 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda Wave RSX, biển số 86B3-067.94 trị giá 8.000.000 đồng.

- 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda Wave RSX, biển số 79N1-627.19 trị giá 10.000.000 đồng.

Về vật chứng:

- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Bích P thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy Wave RSX màu xám đen biển số 79N1-627.19 của anh Đỗ Duy Nhật Hoàng và xe gắn máy Wave RSX màu trắng biển số 86B3-067.94 của anh Võ T Nhựt Hiền vào ngày 24/02/2022 tại nhà trọ số 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19, số khung 5248DY037183, số máy JC52E6054618. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Qua xác minh được biết, xe trên do ông Đỗ Duy Quý (cha ruột của anh Đỗ Duy Nhật Hoàng) mua lại của ông Lê Hùng Dũng (có giấy tờ xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, hiện nay ông Dũng đã mất). Năm 2018, ông Quý đã giao lại xe trên cho anh Hoàng sử dụng.

- 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94, số khung 4320BY277025, số máy C43E-6209009. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Qua xác minh được biết, xe trên do ông Võ T Dũng (cha ruột của anh Võ T Nhựt Hiền) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, ông Dũng đã giao lại xe trên cho anh Hiền sử dụng.

- 01 xe gắn máy hiệu Airblade màu đen, không biển số, số khung: RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E-5096145. Kết luận giám định số 11858 ngày 18/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: số khung, số máy nguyên thủy. Qua xác minh được biết, xe trên có biển số xe là 54S1-4950 do chị Lê Hà Phương Thảo đứng tên chủ sở hữu. Tiến hành mời Thảo đến làm việc nhưng Thảo không đến. Qua xác minh, được biết Lê Hà Phương Thảo có hộ khẩu thường trú tại số 5/121/19B Nơ Trang Long, phường 7, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã đi khỏi địa phương từ năm 2016, hiện không rõ nơi cư trú.

Ghi lời khai anh Nguyễn Tấn Phước được biết chiếc xe trên anh Phước được 01 người bạn tên Châu (không rõ lai lịch) cho vào năm 2017 nhưng không có đưa giấy tờ xe cho anh Phước.

- 01 xe mô tô Dream biển số 51F2-7245, số khung C100M-0441623, số máy C100ME-0441623. Kết luận giám định số 11857 ngày 18/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: số khung, số máy nguyên thủy. Quá trình xác minh được biết, xe trên do bà Đặng Minh Nga đứng tên chủ sở hữu.

Ghi lời khai bà Nga được biết, giữa năm 2020, bà Nga quen biết Nguyễn Minh T, do thấy T không có xe đi lại nên bà Nga đã cho T mượn chiếc xe trên để sử dụng, không xác định thời hạn trả lại xe, giấy tờ xe bà Nga vẫn giữ. T đã sử dụng xe trên từ đó đến nay, chưa trả lại cho bà Nga. Việc T sử dụng xe trên để đi trộm cắp tài sản thì bà Nga hoàn toàn không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho bà Nga.

- 01 xe Honda Vision màu đỏ mà Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N bán cho Tạ. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được cũng như chưa xác minh được các thông tin liên quan.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6T điện thoại mà Nguyễn Minh T sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh là điện thoại của Nguyễn Thị Bích P.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reon 6 màu xanh của Nguyễn Thị Như N sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Tấn Phước yêu cầu được nhận lại chiếc xe gắn máy Airblade màu đen, không biển số, số khung: RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E-5096145, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Anh Võ T Nhật Hiền yêu cầu bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, bằng với số tiền của Hội đồng định giá kết luận, các bị cáo chưa bồi thường.

Anh Đỗ Duy Nhật Hoàng yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bằng với số tiền của Hội đồng định giá kết luận, các bị cáo chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 129/CT-VKSBTh ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N về tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N tự nguyện khai báo không ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình … các bị cáo. Các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P đồng ý tự nguyện liên đới bồi thường thiệt hại đối với tài sản trộm cắp không thu hồi được là 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19 của bị hại anh Đỗ Duy Nhật Hoàng và 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94 của bị hại là anh Võ T Nhật Hiền, bằng với số tiền của Hội đồng định giá kết luận. Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời nói sau cùng.

Các bị hại anh Võ T Nhật Hiền và anh Đỗ Duy Nhật Hoàng sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các anh cùng làm đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Qua đơn trình bày anh Võ T Nhật Hiền và anh Đỗ Duy Nhật Hoàng cùng yêu cầu các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P có trách nhiệm liên đới bồi thường đối với các tài sản trộm cắp không thu hồi được bằng với số tiền của Hội đồng định giá kết luận gồm 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19 của bị hại anh Đỗ Duy Nhật Hoàng có giá trị 10.000.000 đồng và 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94 của bị hại là anh Võ T Nhật Hiền có giá trị 8.000.000 đồng.

Đối với bị hại anh Nguyễn Tấn Phước có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, qua đơn thể hiện anh được một người bạn cho chiếc xe gắn máy Airblade màu đen, không nhớ biển số và không đưa cho anh giấy tờ, hiện nay người bạn cho anh đã mất. Anh sử dụng xe trên để đi làm hàng ngày và bị mất trộm. Nay anh xin Hội đồng xét xử cho anh được nhận lại chiệc xe trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, do đó việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện đã ghi nhận lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đầy đủ, do đó việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích P. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Như N. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như N từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. Thời hạn từ tính tù ngày 31/3/2022

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N khai nhận quá trình điều tra tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không ai ép buộc bị cáo khai không đúng với ý chí của các bị cáo. Như vậy lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay giống như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do thiếu tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân. Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 24/2/2022 Nguyễn Thị Bích P rủ Nguyễn Minh T trộm cắp tài sản tại nhà trọ do Nguyễn Thị Bích P Thuê tại số 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Được sự đồng ý của Nguyễn Minh T, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, các bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94 của bị hại là anh Võ T Nhật Hiền có giá trị 8.000.000 đồng và chạy đến hẻm 92 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, quận Bình Thạnh cất giấu sau đó tiếp tục quay lại nhà trọ 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục trộm cắp tài sản là 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19 của bị hại anh Đỗ Duy Nhật Hoàng có giá trị 10.000.000 đồng. Sau khi trộm cắp các bị cáo đã bán 02 xe trên cho một T niên tên Tạ (không rõ lai lịch) được 6.500.000 đông. Nguyễn Thị Bích P lấy 3.500.000 đồng và chia cho Nguyễn Minh T 3.000.000 đồng. Các bị cáo sử dụng số tiền tiêu xài cá nhân hết.

Tiếp tục thực hiện hành vi vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/3/2022 Nguyễn Minh T rủ Nguyễn Thị Như N đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì N đồng ý. Nguyễn Minh T lấy 01 cây đoản bẻ khóa xe và chở Nguyễn Thị Như N đi lòng vòng quanh khu vực T Đa tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến trước số 009 lô 8 Cư xá T Đa, phường 27, quận Bình Thạnh thì phát hiện 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade, màu đen biển số 54S1-4950 của bị hại Nguyên Tấn Phước đang để không người trông coi, nên Nguyễn Minh T kêu Nguyễn Thị Như N đứng ngoài cảnh giới để Nguyễn Minh T lén lút đi đến dùng đoản bẻ khóa xe và nổ máy chạy về bãi xe chợ T Đa gửi. Sau đó Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N cùng nhau đi bán cho một T niên tên Tạ (không rõ lai lịch). Trong quá trình giao dịch bán xe cho Tạ và mở đổi biển số xe thì bị Công an phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức tuần tra phát hiện và bắt giữ được Nguyễn Thị Như N còn Nguyễn Minh T và tên Tạ (không rõ lai lịch) chạy thoát. Đến 07 giờ 00 phút ngày 01/4/2022 Nguyễn Minh T đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đầu thú và khai rõ hành vi phạm tội của mình cùng với Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N. Việc bị phát hiện và bắt giữ nằm ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo, các bị cáo thực hiện một cách cố ý, tội phạm đã hoàn thành.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 132/KLGĐTS-TCKH ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBlade không biển số, màu đen số khung RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E5096145 trị giá 4.000.000 đồng. Tại Kết luận định giá tài sản số 135/KLGĐTS-TCKH ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình T, kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda Wave RSX, biển số 86B3-067.94 trị giá 8.000.000 đồng và 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda Wave RSX, biển số 79N1-627.19 trị giá 10.000.000 đồng. Như vậy tổng số tài sản giữa bị cáo Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Minh T chiếm đoạt có tổng giá trị 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng). Tổng số tài sản giữa Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N chiếm đoạt có giá trị 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Bích P; Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Thị Bích P; Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức về quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do muốn có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản 03 xe gắn máy gồm: 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94 của bị hại là anh Võ T Nhật Hiền có giá trị 8.000.000 đồng; 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19 của bị hại anh Đỗ Duy Nhật Hoàng có giá trị 10.000.000 đồng và 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBlade không biển số, màu đen số khung RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E5096145 trị giá 4.000.000 đồng của bị hại Nguyễn Tấn Phước. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo vì động cơ tư lợi nên đã cố ý phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị Bích P; Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N là đồng phạm: Bị cáo Nguyễn Thị Bích P với vai trò khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Minh T; còn bị cáo Nguyễn Minh T vừa vai trò rủ rê bị cáo Nguyễn Thị Như N vừa vai trò là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại. Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do nhất thời, chưa có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cụ thể, chưa cấu kết chặt chẽ với nhau, phạm tội do bộc phát, nhất thời. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn. Vì vậy, căn cứ vào từng hành vi, tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo, để Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự và để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hình vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tính tiết tăng nặng trách niệm hình sự với bị cáo Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Minh T: Trong khoảng thời gian ngắn ngày 24/2/2022 bị cáo Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Minh T đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào 02 thời điểm khác nhau đối với 02 tài sản là 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94 và 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19. Ngoài ra ngày 30/3/2022 Nguyễn Minh T tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBlade không biển số, màu đen số khung RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E5096145 của bị hại Nguyễn Tấn Phước. Do đó các bị cáo Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Minh T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên, theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Thị Bích P: Ngày 16/01/2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt, chưa đóng án phí và tiền thu lợi bất chính là 106.000 đồng (một trăm lẽ sáu ngàn đồng) (bản án số 11/2018/HSST ngày 16/01/2018). Do bị cáo phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên đương nhiên được xóa án tích. Nhưng qua đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Minh T: Ngày 26/01/2010 bị Tòa án nhân dân quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 16/5/2013 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và ngày 21/10/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 01 tháng tù. Tuy bị cáo đã chấp hành hình phạt các bản án nêu trên và đóng án phí, nên đã được xóa an tích. Nhưng qua đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Thị Như N: Bị cáo có một tiền sự chưa được xóa, ngày 18/9/2021 bị Công an quận Bình Thạnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.650.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Như N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù ra theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, nhưng xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, lao động phổ thông, và làm nghề tự do để kiếm sống, do dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp mất việc làm, mất thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

Đối với đối tượng tên Tạ (không rõ lai lịch) đã có hành vi mua xe máy do Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N trộm cắp được, cơ quân điều tra đang tiếp tục điều tra, truy tìm khi nào làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Bích P thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy Wave RSX màu xám đen biển số 79N1-627.19 của anh Đỗ Duy Nhật Hoàng và xe gắn máy Wave RSX màu trắng biển số 86B3-067.94 của anh Võ T Nhựt Hiền vào ngày 24/02/2022 tại nhà trọ số 334B Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình Thạnh. Đây là vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên lưu theo hồ sơ vụ án.

- 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19, số khung 5248DY037183, số máy JC52E6054618. Qua xác minh được biết, xe trên do ông Đỗ Duy Quý (cha ruột của anh Đỗ Duy Nhật Hoàng) mua lại của ông Lê Hùng Dũng (có giấy tờ xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, hiện nay ông Dũng đã mất). Năm 2018, ông Quý đã giao lại xe trên cho anh Đỗ Duy Nhật Hoàng sử dụng. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được, do đó Hội đồng xét xử không xét.

- 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94, số khung 4320BY277025, số máy C43E-6209009. Qua xác minh được biết, xe trên do ông Võ T Dũng (cha ruột của anh Võ T Nhựt Hiền) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, ông Dũng đã giao lại xe trên cho anh Võ T Nhật Hiền sử dụng. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được, do đó Hội đồng xét xử không xét.

- 01 xe gắn máy hiệu Airblade màu đen, không biển số, số khung: RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E-5096145. Kết luận giám định số 11858 ngày 18/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: số khung, số máy nguyên thủy. Qua xác minh được biết, xe trên có biển số xe là 54S1-4950 do chị Lê Hà Phương Thảo đứng tên chủ sở hữu. Tiến hành mời Thảo đến làm việc nhưng Thảo không đến. Qua xác minh, được biết Lê Hà Phương Thảo có hộ khẩu thường trú tại số 5/121/19B Nơ Trang Long, phường 7, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã đi khỏi địa phương từ năm 2016, hiện không rõ nơi cư trú. Ghi lời khai anh Nguyễn Tấn Phước được biết chiếc xe trên anh Phước được 01 người bạn tên Châu (không rõ lai lịch) cho vào năm 2017 nhưng không có đưa giấy tờ xe cho anh Phước. Đây là vật chứng của vụ án không rõ nguồn gốc, Cơ quan cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu nhưng đến nay không có ai đến liên hệ làm việc. Do đó tiếp tục đăng báo đối với 01 xe gắn máy hiệu Airblade màu đen, không biển số, số khung: RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E-5096145 hết thời hạn nêu trên không ai đến nhận thì tịch su sung công quỹ Nhà nước.

- 01 xe mô tô Dream biển số 51F2-7245, số khung C100M-0441623, số máy C100ME-0441623. Kết luận giám định số 11857 ngày 18/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: số khung, số máy nguyên thủy. Quá trình xác minh được biết, xe trên do bà Đặng Minh Nga đứng tên chủ sở hữu. Ghi lời khai bà Nga được biết, giữa năm 2020, bà Nga quen biết Nguyễn Minh T, do thấy T không có xe đi lại nên bà Nga đã cho T mượn chiếc xe trên để sử dụng, không xác định thời hạn trả lại xe, giấy tờ xe bà Nga vẫn giữ. T đã sử dụng xe trên từ đó đến nay, chưa trả lại cho bà Nga. Việc T sử dụng xe trên để đi trộm cắp tài sản thì bà Nga hoàn toàn không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho bà Nga là phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xét.

- 01 xe Honda Vision màu đỏ mà Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Như N bán cho Tạ. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được cũng như chưa xác minh được các thông tin liên quan, do đó Hội đồng xét xử không xét.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6T điện thoại mà Nguyễn Minh T sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đây là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng liên hệ để đi trộm cắp tài sản, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh của Nguyễn Thị Bích P sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đây là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng liên hệ để đi trộm cắp tài sản, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu đen là điện thoại của Nguyễn Thị Bích P. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào mục đích phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reon 6 màu xanh của Nguyễn Thị Như N sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đây là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng liên hệ để đi trộm cắp tài sản, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Tấn Phước yêu cầu được nhận lại chiếc xe gắn máy Airblade màu đen, không biển số, số khung: RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E-5096145, ngoài ra không có yêu cầu gì khác, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Anh Võ T Nhật Hiền yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường đối với tài sản trộm cắp là 01 xe gắn máy Wave RSX màu trắng biến số 86B3-067.94 không thu hồi được, bằng với số tiền của Hội đồng định giá kết luận số tiền 8.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Bích P mỗi bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Võ T Nhật Hiền 4.000.000 đồng (bồn triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Đỗ Duy Nhật Hoàng yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường đối với tài sản trộm cắp là 01 xe gắn máy Wave RSX màu đen xám biển số 79N1-627.19 không thu hồi được, bằng với số tiền của Hội đồng định giá kết luận số tiền 10.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Bích P mỗi bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Võ T Nhật Hiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích P;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh T;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022.

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Như N;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

2.1. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích P bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) cho bị hại là anh Võ T Nhật Hiền và 5.000.000 đồng cho bị hại là anh Đỗ Duy Nhật Hoàng, làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2.2. Buộc bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) cho bị hại là anh Võ T Nhật Hiền và 5.000.000 đồng cho bị hại là anh Đỗ Duy Nhật Hoàng, làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả lãi, theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Các đương sự có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo các Điều 7, 30, 31 và 32 của Luật thi hành án dân sự năm 2008.

3. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

3.1. Tuyên lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Bích P thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy.

3.2. Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước: - 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reon 6 màu xanh N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6T; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh.

+ Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Bích P: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu đen.

Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 06 tháng đối với 01 xe gắn máy hiệu Airblade màu đen, không biển số, số khung: RLHJF18007Y596297, số máy: JF18E-5096145; nhãn hiệu Honda; số loại Blade. Hết thời hạn nêu trên không ai đến nhận thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 16 giờ 00 phút, ngày 19/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị Bích P phải chịu 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ