vanban.org

Bản án 150/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/4/2022. Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản”; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
.;TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ
VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2022/HS-ST
Ngày: 16 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Soan

Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Quách Diệp Nguyệt Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn S, sinh năm 1991, tại: Nghệ An; Hộ khẩu thường trú: huyện Đô L, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965; Chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: - Ngày 20/10/2021 Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 101/2021/HSST); Tạm giữ,tạm giam ngày: 12/4/2022; (Có mặt).

- Bị hại: Ông Phạm Trường C, sinh năm 1967; Địa chỉ: số X Dương Quảng Hàm, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.(Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lê Phúc T, sinh năm 1987; Địa chỉ: số A Bà Lê C, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.(Vắng mặt)

+ Ông Danh B, sinh năm 1965; Địa chỉ: sốB, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 09 giờ 30 ngày 12/4/2022, Nguyễn Văn S gặp bạn tên T1 (chưa rõ lai lịch) tại tỉnh Bình Dương. Sau đó, T1 chạy xe gắn máy biển số 68G1 – 651.68 của T1 chở S đi xin việc làm. Trên đường đi, T1 rủ S cùng đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì S đồng ý. Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày12/4/2022, T1 phát hiện 01 chiếc xe gắn máy biển số 59T1 – 089.67 của anh Phạm Trường C ở quận Gò Vấp dựng trước nhà, không có người trông coi. T1 kêu S ngồi trên xe để cảnh giới. T1 một mình đi bộ đến bẻ khóa xe mô tô trên sau đó lên xe chạy tẩu thoát thì anh C ở trong nhà, phát hiện nên chạy ra truy hô. T1 nhảy lên xe do S điều khiển để tẩu thoát thì bị cả hai bị ngã xe xuống đường. S và T1 bỏ xe chạy tẩu thoát. S bị anh Phạm Trường C cùng quần chúng nhân dân bắt giữ cùng phương tiện gây án xe mô tô biển số 68G1 – 651.68 và vật chứng chiếc xe biển số 59T1 – 089.67 giao Công an phường 5, quận Gò Vấp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng T1 chạy bộ tẩu thoát.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi cùng đồng phạm tên T1 thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị hại anh Phạm Trường C đã nhận lại xe trên và không thắc mắc yêu cầu gì thêm.

Đối với đối tượng Lê Văn T1, S khai nhận quen biết T1 có nơi ở tại xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Đồng thời, qua làm việc Cơ quan CSĐT đã thu thập được 01 tấm ảnh do S xác định chính là T1. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định Ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tiến hành xác minh đối tượng Lê Văn T1. Tuy nhiên đến nay chưa có kết quả trả lời và do chưa ghi được lời khai của Lê Văn T1 để xác định T1 có liên quan đến vụ án hay không, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đủ căn cứ sẽ xử lý hình sự đúng qui định.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy Honda Wave màu đỏ đen bạc, biển số: 59T1-089.67,

số khung: RLHHC120XBY055086; số máy: HC12E-2855062 là xe do T1 và S chiếm đoạt, qua xác minh xe do anh Lê Phúc T đứng tên chủ sở hữu. Anh T đã bán lại xe trên cho anh Phạm Trường C vào tháng 10/2018, có làm hợp đồng ủy quyền tại văn phòng công chứng. Qua định giá có giá trị 7.500.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS, ngày 18/4/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự). Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho anh Phạm Trường C.

- 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận lại video quá trình vụ trộm cắp tài sản ngày 12/4/2022 tại địa chỉ nhà số B Dương Quảng Hàm, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh;

- 01 xe máy hiệu Yahama Sirius, biển số: 68G1-651.68, số máy: E3X9E566482, số khung: RLCUE3220JY116077 là phương tiện đối tượng Lê Văn T1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội sau đó đã tẩu thoát. Qua xác minh xe trên do anh Danh B, trú tại D Vĩnh Lợi, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại nơi cư trú của Danh B, kết quả Danh B hiện không có mặt ở địa phương nên Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu.

- 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jean dài màu xanh xám; 01 nón vải màu trắng; 01 mũ bảo hiểm trắng, viền hồng có chữ Sense; 01áo thun trắng có chữ bên ngực trái, đã qua sử dụng; 01 đôi dép quai ngang màu đen xám là quần áo, đồ vật S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 138/CTr-VKS, ngày 18/7/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp .

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe Yamaha sirius biển số 68G1-651.68.

Trả lại cho bị cáo 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jean dài màu xanh xám; 01 nón vải màu trắng; 01 mũ bảo hiểm trắng, viền hồng có chữ Sense; 01áo thun trắng có chữ bên ngực trái, đã qua sử dụng; 01 đôi dép quai ngang màu đen xám.

Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng xã hội để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Văn S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Lợi dụng sự mất cảnh giác của bị hại bị cáo cùng đồng bọn đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mà mình vừa được cải tạo xong, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và điều đó chứng tỏ thời gian cải tạo của bản án trước chưa đủ để giáo dục cho bị cáo. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bị cáo bồi thường và yêu cầu gì khác nên tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Về xử lý vật chứng:

-Đối vi 01 xe máy Honda Wớ

ave màuđỏen bđ c, biạ n sể:ố 59T1-089.67 là xe do T1 và S chiếm đoạt, qua xác minh xe do anh Lê Phúc T đứng tên chủ sở hữu. Anh T đã bán lại xe trên cho anh Phạm Trường C vào tháng 10/2018, có làm hợp đồng ủy quyền tại văn phòng công chứng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe cho ông Phạm trường C. Hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

- Đối với 01 USB chứa hình ảnh trích xuất camera ghi lại diễn biến vụ án, xét thấy đây là chứng cứ vụ án Hội đồng xét xử quyết định tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ theo hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) chiếc xe máy hiệu Yahama Sirius, biển số: 68G1-651.68, số máy: E3X9E566482, số khung: RLCUE3220JY116077 là phương tiện đối tượng Lê Văn T1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh xe trên do anh Danh B, trú tại D Vĩnh Lợi, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại nơi cư trú của Danh B, kết quả Danh B hiện không có mặt ở địa phương nên Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến nhận, xét thấy đã quá thời hạn đăng trên thông tin đại chúng Hội đồng xét xử quyết định tich thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jean dài màu xanh xám; 01 nón vải màu trắng; 01 mũ bảo hiểm trắng, viền hồng có chữ Sense; 01áo thun trắng có chữ bên ngực trái, đã qua sử dụng; 01 đôi dép quai ngang màu đen xám là tư vật của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với đối tượng Lê Văn T1 Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đủ căn cứ sẽ xử lý hình sự đúng qui định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/4/2022.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp.

Tịch Thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe máy hiệu Yahama Sirius, biển số: 68G1-651.68, số máy: E3X9E566482, số khung: RLCUE3220JY116077.

Trả lại cho bị cáo 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jean dài màu xanh xám; 01 nón vải màu trắng; 01 mũ bảo hiểm trắng, viền hồng có chữ Sense; 01áo thun trắng có chữ bên ngực trái, đã qua sử dụng; 01 đôi dép quai ngang màu đen xám.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ