- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hoàng G Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2019/HSST Ngày: 01/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Huệ;
2. Bà Đinh Thị Ngọc Châu.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Hải Đăng, cán bộ Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 135/2019/HSST ngày 19 tháng 09 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 845/2019/QĐXXST-HS ngày 21/10/2019 đối với bị cáo:
Đặng Hoàng G, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Thường trú: Ấp Mũi Lớn 1, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 02/12; con ông Đặng Tiến Đ (sinh năm 1955), con bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1958); Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam: từ ngày 16/6/2019(Có mặt).
Những người tham gia tố tụng khác:
1. Bị hại: Ông Nguyễn Long H, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số X Võ Văn Kiệt, phường 01, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1970
Địa chỉ: Khu vực Tân An, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
3. Người làm chứng: Ông Trần Đức T, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số X đường Quang Trung, phường 11, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 22 giờ 30 ngày 16/6/2019 Đặng Hoàng G điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Warm không gắn biển số. Khi đi đến trước nhà số 13B Lê Thánh Tôn, Quận 1 thì xe của G bị hỏng. Lúc này G phát hiện xe mô tô hiệu Suzuki BS 54H2-6820 của anh Nguyễn Long H đang dựng trước cửa nhà không người trông coi. Nảy sinh ý định trộm cắp T sản, G điều khiển xe của mình dựng bên đường trước nhà số 13B Lê Thánh Tôn, sau đó G đi đến ngồi lên xe gắn máy của anh H, dùng chìa khóa xe của mình cắm vào ổ khóa xe biển số 54H2-6820 để mở khóa. Trong lúc G đang mở khóa xe thì bị anh H, anh Trần Đức T (Bảo vệ dân phố phường Bến Nghé) phát hiện thu giữ vật chứng, bắt giữ G đưa về Công an phường Bến Nghé, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 để xử lý. Theo Kết luận định giá T sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2019 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận 01 xe máy hiệu Suzuki biển số 54H2-6820, số khung J-090139062, số máy E455-139062 có trị giá 4.333.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Đặng Hoàng G khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với lời chứng cứ khác đã thu được được trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe gắn máy Suzuki biển số 54H2-6820 có trị giá 4.333.000 đồng. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Long Hồ;
- 01 chìa khóa hiệu SYM số A168.
Thu giữ của Đặng Hoàng G:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng;
- 01 xe mô tô hiệu Honda loại Warm không gắn biển số. Qua xác minh số khung VDPWCB014DP016840, số máy: VDP1P39FMB016840 xe do ông Phạm Văn N đứng tên sở hữu. Năm 2015 ông N đã bán cho một người thanh niên (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên. Bị can G khai mua chiếc xe trên của một người không rõ lai lịch, không làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu đến nay vẫn chưa có kết quả. Tất cả các vật chứng còn lại hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 233/19-PNK ngày 18 tháng 7 năm 2019).
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSQ1 ngày 17 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Hoàng G về tội “Trộm cắp T sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa kết luận bị cáo Đặng Hoàng G đã phạm tội “Trộm cắp T sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo G từ 09 đến 12 tháng tù. Đối với vật chứng của vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị: 01 xe gắn máy Suzuki biển số 54H2-6820 đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Long Hồ; Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa hiệu SYM số A168; Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng G 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda loại Warm không gắn biển số, số khung VDPWCB014DP016840, số máy VDP1P39FMB016840 cần tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong hạn 30 ngày theo quy định, quá thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu hợp pháp tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cùng các T liệu và chứng cứ khác trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 ngày 16/6/2019 Đặng Hoàng G điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Warm không gắn biển số khi đi đến trước nhà số 13B Lê Thánh Tôn, Quận 1 thì xe của G bị hỏng. Lúc này G phát hiện xe mô tô hiệu Suzuki BS 54H2-6820 của anh Nguyễn Long Hồ đang dựng trước của nhà không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp T sản. Bị cáo lén lút ngồi lên xe gắn máy của anh H, dùng chìa khóa xe của mình cắm vào ổ khóa xe biển số 54H2-6820 của anh H để mở khóa định chiếm đoạt thì bị anh H cùng anh T (bảo vệ dân phố phường Bến Nghé) phát hiện bắt giữ.
Căn cứ kết luận định giá T sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 20/06/2019 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự Quận 1 xác định trị giá 01 xe gắn máy hiệu Suzuki, biển số 54H2-6820, số khung: J-090139062, số máy: E455-139062 có trị giá 4.333.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương. Bị cáo có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, đã được đưa đi giám định tâm thần trong quá trình điều tra. Bị cáo vì động cơ tư lợi cá nhân cố tình thực hiện hành vi phạm tội do đó cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại bị cáo Đặng Hoàng G 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng; imei:861485031269054; imei:861485031269047 do không quan đến hành vi phạm tội nhưng tam giữ để đảm bảo Thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy Chìa khóa hiệu SYM số A168 do không còn giá trị sử dụng và liên quan đến hành vi phạm tội (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 233/19-PNK ngày 18 tháng 7 năm 2019).
Đối với xe môtô hiệu Warm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã cần tiếp tục đăng báo trong hạn 30 ngày nếu không có ai liên hệ thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
. Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt Đặng Hoàng G 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ ngày 16 tháng 6 năm 2019.
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trả lại bị cáo Đặng Hoàng G 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng; imei:861485031269054; imei:861485031269047 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
Tịch thu tiêu hủy Chìa khóa hiệu SYM số A168;
Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với xe môtô hiệu Warm không gắn biển số, số khung VDPWCB014DP016840, số máy VDP1P39FMB016840 cần tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong hạn 30 ngày. Quá thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu hợp pháp tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
(Theo phiếu nhập kho số 233/19-PNK ngày 18/7/2019)
- Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Hoàng G phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người BH; Người LQ; - Công an TP.HCM (PC 53 - Đ3); - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Q.1; - Công an Q.1; - Chi cục Thi hành án dân sự Q.1; - Thi hành án hình sự Quận 1; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |