- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Huy D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 150/2017/HSST Ngày 20 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Tiến Thịnh;
2. Ông Phạm Đức Toàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án.
Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thành phố Thá i Binh tham gia phiên
̀ tòa: Ông Trần Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số130/2017/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2017, quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số: 165/2017/QĐXX-ST ngày 08 tháng 9 năm 2017, đối vớ i bi ̣ cáo:
Họ và tên: VŨ HUY D, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1960.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 88, Tổ 19, phường Đ, thành phố B, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: Số nhà 41, Tổ 26, phường Bồ Xuyên, thành phố B, tỉnh Thái Bình;
Không nghề nghiệp;
Trình độ văn hóa: 4/10.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không.
Con ông Vũ Văn C (đã chết), con bà Nguyễn Thị M (đã chết).
Từng chung sống như vợ chồng với chị Vũ Thị H, sinh năm 1954 và có 02 con: Con lớn sinh năm 1981, con nhỏ sinh năm 1984. Hiện không rõ nơi cư trú của chị Vũ Thị Hồng và 02 con.
Trước khi bị bắt, chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Lùn (tức Thơm), sinh năm 1955 tại số nhà 41, Tổ 26, phường Bồ Xuyên, thành phố B, tỉnh Thái Bình.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân:
- Bản án số 02/HS ngày 26/12/1978 của Tòa án quân sự quân khu 3, xử phạt VŨ HUY D03 năm tù về tội “Đào ngũ, rủ người khác đào ngũ”, thời hạn tính từ ngày 02/12/1978, đuổi khỏi quân đội.
- Bản án số 41/1997/HSST ngày 20/6/1997 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình (nay là thành phố B), xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/1997. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 5/1999 và chấp hành xong án phí ngày 17/3/2004.
- Bản án số 12/2003/HSST ngày 24/01/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xử phạt 42 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2002. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm ngày 12/4/2004.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2017 đến ngày 12/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Đào Mạnh H, sinh năm 1984; Trú tại số nhà 384, Tổ 27, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1971; Trú tại số nhà 367, Tổ 26, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/6/2017, tại khu vực nga tư đưỡ
̀ ng Phan Bá Vành và đườ ng Ngô Thi Nhâ ̣m, thuô ̣c Tổ 39, phườ ng Kỳ Bá, thành phố Thái Bình,
̀ tỉnh Thái Bình, Vũ Huy D bị tổ công tác Công an phường Kỳ Bá bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trướ c sự chứng kiến của anh Đào Mạnh H, sinh năm 1984; Trú tại số nhà 384, Tổ 27, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình và anh Nguy ễn Ngọc L, sinh năm 1971; Trú tại số nhà 367, Tổ 26, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình, D tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái cho tổ công tác 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ , bên trong có chứ a chất bô ̣t màu trắng da ̣ng cu ̣c, D khai nhâ ̣n là hêrôin, D mua 01 của một ngườ i nam giớ i khoảng 35 tuổi, không biết tên , đi ̣a chi ở khu vực đường P, Tổ 38, phườ ng K ,
̉
thành phố Thái Bình với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân.
Kiểm tra ngườ i D , tổ công tác thu ta ̣i túi quần bên phải của D đang mă ̣c 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u Nokia 1280 màu đen và số tiền 10.000 đồng
Tại bản Kết luận giám định số 221/KLGĐ-PC54 ngày 09/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luâ ̣n: Mẫu gử i giám định thu của Vũ Huy D là ma túy , loại Hêrôin, có trọng lượng 0,3465 gam (không phẩy ba nghin
̀ bốn trăm sáu mươi lăm gam).
Tại cáo trạng số 137/KSĐT ngày 09 tháng 8 năm 2017, Viê ̣n kiểm sát nhân D thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Huy D về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
Tại phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn giữ
̀ nguyên quan điểm truy tố Vũ Huy D về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Căn cứ vào những chinh sách có lợi cho bi ̣ cáo do thay
́ đổi chinh sách pháp luâ ̣t của Nhà nướ c theo Nghi ̣ quyết số 41/2015/QH14 ngày
́ 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 09/6/201. Do bi ̣ cáo tàng trữ ma túy để sử du ̣ng cho bản thân, không có mu ̣c đich lợi nhuâ ̣n nên không áp dụng hình phạt bổ sung
́ là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự: Đề nghi ̣ ti ̣ch thu tiêu hủy toàn bô ̣ số ma túy hoàn trả sau giám đi ̣nh ; Trả lại bị cáo 01 chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u Nokia 1280 màu đen, đa cũ ̃ và số tiền 10.000 đồng nhưng tiếp tu ̣c quản lý để đảm bảo thi hành án;
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý vớ i quan điểm truy tố của vị đại diện Viện kiểm sát về tô ̣i danh, điều luâ ̣t áp du ̣ng, mứ c hinh pha ̣t, xử lý vâ ̣t chứ ng và không có ý kiến, tranh
̀ luâ ̣n gi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
̀
Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án , bị cáo trình bày lời nói sau
cùng: Bị cáo rất ân hâ ̣n về hành vi pha ̣m tô ̣i của minh , xin Hô ̣i đồng xét xử giảm
̀ nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về vớ i xa hô ̣̃ i.
̀
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:
Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trinh điều tra , truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng quy đi ̣nh của
̀ Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoă ̣c
̀ khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tụng. Do đó , các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đúng theo quy định của pháp luật.
Về hành vi tàng trữ 0,3465 gam (không phẩy ba nghin b ốn trăm sá u mươi
̀ lăm gam) hêrôin của Vũ Huy D mục đích để sử dụng cho bản thân thấy tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định: "Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm".
Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 Quốc Hội về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội thì quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 so với với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" có mức hình phạt nhẹ hơn, cụ thể:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
....
c, Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Tại phiên tòa hôm nay , bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình. Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay phù hợp vớ i lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i giai đoa ̣n điều tra , truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như : Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang (bút lục từ số 03 đến 06); Biên bản niêm phong vâ ̣t chứ ng (bút lục số 25); Bản kết luận giám định số 221/KLGĐ – PC 54 ngày 09/6/2017 (bút lục số 28); Bản tự khai và biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là anh Đào Ma ̣nh H và anh Nguyễn Ngọc L (bút lục từ số 31 đến 36); Cùng các tài liê ̣u, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.
Bị cáo Vũ Huy D là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và
điều khiển hành vi của minh . Tuy nhâ ̣n thứ c được tác ha ̣i của ma túy , nhâ ̣n thứ c
̀ được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bi ̣ pháp luâ ̣t nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý vẫn thực hiê ̣n nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Hành vi phạm tội của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội , đa xâm pha ̣̃
m quy đi ̣nh quản lý chất gây nghiê ̣n của Nhà nướ c.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999 như Viện kiểm sát nhân dân
̀ thành phố B đã truy tố.
Xem xét nhân thân và các tinh tiết giảm nhe ̣ , tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự
̀
̀ của bị cáo thấy:
Bị cáo là ngườ i có nhân thân xấu do đa tữ ̀ ng đào ngũ khỏi Q uân đô ̣i nhân dân Viê ̣t Nam và nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử, tuy không còn án tích nhưng cũng thể hiện bị cáo là người khó tiếp thu sự giáo dục, cải tạo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần quyết định hình phạt tương xứ ng vớ i hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo , cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nh ất định, mớ i có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và cũng là để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xét: bị cáo thành kh ẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại khoản 5 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999 còn quy đi ̣nh: “Người phạm
̀
tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Xét bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng , không vì mục đích vụ lợi, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớ i bi ̣ cáo.
Về xử lý vật chứ ng:
Số ma túy thu giữ được của bi ̣ cáo là vâ ̣t thuô ̣c loại Nhà nước cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự, điểm a khoản 2 Điều 76 Bô ̣
̀
luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự, cần ti ̣ch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, đa cũ ̃ và số tiền 10.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i nên áp dụng khoản 3 Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự, trả lại bị cáo.
̀
Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
́
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáotheo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣.t
Về nguồn gốc số hêrôin bị cáo khai mua của mô ̣t ngườ i đàn ông kho ảng 35 tuổi, không quen biết, ở khu vực đường Phan Bá Vành, thuô ̣c Tổ 38, phườ ng Kỳ Bá, thành phố B, tỉnh Thái Bình. Qua điều tra, xác minh, không xác đi ̣nh được cu ̣ thể người bán ma túy cho bi ̣ cáo nên không đủ căn cứ để xử ly.́
Vì các lẽ trên,
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Huy Dphạm tội“Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y”.
2. Hình phạt : Áp dụng kho ản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh
̀ sự năm 2015.
Xử pha ̣t bi ̣ cáo Vũ Huy D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh
́ từ ngày 09/6/2017.
3. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Áp dụng Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Điều 41
̀ Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định là 0,3173 gam hêrôin được niêm phong trong phong bì số 221/KLGĐ.
- Trả lại bị cáo 01 chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u Nokia 1280 màu đen, đa cũ ̃ và số tiền 10.000 đồng.
(Số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B ngày 09/8/2017)
4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số
̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buô ̣c bi ̣ cáo Vũ Huy D phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
5. Về quyền khá ng cá o : Bị cáo VŨ HUY Dcó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/9/2017.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
̀
̉ SƠ THẨ
| - Bị cáo; ́ - VKSND TP. Thái Bình; - Nhà tạm giữ Công an TP. Thái Bình/Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Công an thành phố Thái Binh;̀ - Chi cu ̣c THADS TP.Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư pháp tinh Thả ́i Binh̀ ; - Lưu bô ̣ phâ ̣n HCTP; - Lưu hồ sơ vu ̣ án. | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XƯ M THÂM PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |