- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2017/HC-PT Ngày 14/9/2017 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa ph
: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Long
Ông Võ Ngọc Thông
- Thư ký phiên tòa:
– Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên.
Trong
ngày 22 tháng 8 năm 2017
2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 147/2017/TLPT-HC ngày 07 tháng 7 năm 2017 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 08/2017/HC-ST ngày 20/4/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 147/2017/QĐ-PT ngày 28/7/2017, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Văn T;
Địa chỉ: xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
ại diện theo ủy quyền: Ông
02/8/2017)
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.
ại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn C - chức vụ: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk
Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk:
-Đắk Lắk.
-Đắk Lắk.
2. Chủ tịch UBND huyện K.
ại diện theo ủy quyền: Ông Châu Văn L – chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện K
.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chủ tịch UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk : Ông Trần Thái T.
- Người kháng cáo:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T đơn khởi kiện ngày 09/9/2016, người khởi kiện là ông Trần Văn T trình bày:
Năm 1995, ông nhận chuyển nhượng của ông Y Tuôp N (tên thường gọi là A Ma H) 4,4ha đất, tại xã E, huyện K. Sau khi nhận chuyển nhượng, do không đủ điều kiện để canh tác, ông đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông Trần Đăng M, ông Nguyễn Quang T, ông Nguyễn Văn C. Diện tích đất còn lại, gia đình ông canh tác một phần, một phần ông cho Đoàn thanh niên thôn làm sân bóng đá. Sau một thời gian làm sân bóng, thanh niên trong thôn không chơi nữa, mà bỏ hoang, nên ông đã canh tác trên đất và làm hồ sơ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 02/10/2009, UBND huyện K ban hành quyết định số: 2383/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, do hành vi vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không áp dụng xử phạt trong lĩnh vực quản lý đất đai, với lý do ông đã có hành vi lấn chiếm đất công cộng.
Không đồng ý với quyết định nêu trên, ông đã làm đơn khiếu nại; Ngày 10/01/2011, Chủ tịch UBND huyện K đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số: 28/QĐ-UBND: không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông, giữ nguyên Quyết định số 2383/QĐ-UBND; Ông tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk; Ngày 25/8/2016, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số: 2490/QĐ-UBND: Không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông; Thống nhất với nội dung quyết định giải quyết khiếu nại số: 28/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Chủ tịch UBND huyện K.
Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Quyết định số: 2383/QĐ-UBND ngày 02/10/2009 của Chủ tịch UBND huyện K và Quyết định số: 2490/QĐ-UBND ngày 25/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.
Người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện K trình bày:
Diện tích đất 7.126m2, tại xã E, huyện K, mà ông Trần Văn T đang khiếu nại, thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 16, có nguồn gốc do ông T bao chiếm đất rừng và cho thanh niên thôn 6 một đám đất rừng, đ thanh niên thôn tự khai hoang, san ủi mặt bằng làm sân bóng đá; Giấy ông T cho thanh niên thôn 6 mượn đất làm sân bóng đá ghi ngày 18/11/1995, có sự xác nhận của chính quyền thôn 6, ông Nguyễn Quang H là không hợp lý. Vì tháng 11/1995, ông H không còn làm thôn phó thôn 6; Ông H chỉ làm thôn phó thôn 6 từ ngày 04/5/1994 đến ngày 21/8/1995, đã bầu lại Ban tự quản thôn gồm có: Ông Đinh Đại P làm trưởng thôn; Ông Hoàng Văn H và ông Ma Đ làm thôn phó.
Giấy sang nhượng đất giữa ông Y Tuôp N và ông Trần Văn T, được Chủ tịch UBND xã C là Y Ngô N ký xác nhận ngày 20/6/1996, là không hợp lý. Vì tại thời điểm này, ông Y Ngô N là Phó công an xã C; đến năm 2004, ông Y Ngô N mới được bầu làm Chủ tịch UBND xã C.
Căn cứ vào hồ sơ đăng ký đất đai của xã E vào năm 1997, thì diện tích đất nêu trên là đất chuyên dùng, do UBND xã E trực tiếp đăng ký quyền sử dụng vào sổ mục kê; sổ địa chính xã E đã được Sở Địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường) phê duyệt vào ngày 04/6/1998.
Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Ngày 08/11/1999, UBND huyện K ban hành quyết định số 447/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, đối với diện tích đất nêu trên giai đoạn 2000- 2010 là đất chuyên dùng.
Năm 2007, ông T trồng cây
trên đất; Năm 2009, ông T tiếp tục xây dựng nhà trên đất đang sử dụng làm sân bóng đá là vi phạm pháp luật về đất đai. Ngày 21/8/2009, UBND xã E đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn T về hành vi trồng cây
trên đất đang sử dụng làm sân bóng đá.
Để khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hành chính của ông T gây ra, ngày 02/10/2009, Chủ tịch UBND huyện K ban hành Quyết định số: 2383/QĐ-UBND về việc: Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính, trong lĩnh vực đất đai; Buộc ông T phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của thửa đất, được quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông T.
Người bị kiện là Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk trình bày:
Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Trần Văn T, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tiến hành xác minh nội dung đơn khiếu nại của ông T và xét thấy: Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 16, diện tích 7.162m2 tại xã E, huyện K, đang được sử dụng làm sân bóng đá cho các thôn T và thôn A, có nguồn gốc là do thanh niên thôn A trước đây tự khai phá đất hoang và sử dụng vào mục đích làm sân bóng đá từ năm 1995 và sử dụng liên tục đến năm 2007, thì phát sinh tranh chấp với hộ ông Trần Văn T.
Hồ sơ đăng ký đất đai tại xã E năm 1997, thì hộ ông T không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất này, mà do UBND xã E đăng ký quyền sử dụng đất, đã được UBND huyện K phê duyệt quy hoạch sử dụng đất tại Quyết định số 447/QĐ-UBND ngày 08/11/1999, về quy hoạch sử dụng đất tại xã E giai đoạn 2000 - 2010 là đất chuyên dùng.
Kiểm tra giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Y Tuôp N và ông Trần Văn T lập ngày 30/4/1995, được ông Y Ngô N - Chủ tịch UBND xã C, huyện K ký xác nhận ngày 20/5/1996 là không hợp lý. Vì thửa đất này không thuộc địa phận hành chính xã C; Giấy ông Trần Văn T cho thanh niên thôn 6 (nay là thôn A) mượn đất lập ngày 18/11/1995, do ông Nguyễn Quang Hồng đại diện thôn 6 ký xác nhận, là không hợp lý. Vì tại thời
này, ông Hồng không phải là thôn trưởng thôn 6.
Do ông Trần Văn T có hành vi xây dựng nhà và trồng cây
trên đất chuyên dùng, là vi phạm pháp luật về đất đai. Ngày 21/8/2009, UBND xã E đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn T về hành vi trồng cây phê và xây dựng nhà trên đất, yêu cầu ông T khôi phục lại hiện trạng ban đầu thửa đất nhưng ông T không chấp hành. Vì vậy, ngày 02/10/2009, Chủ tịch UBND huyện K ban hành Quyết định số 2383/QĐ-UBND về việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra, trong trường hợp không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính, trong lĩnh vực đất đai, đối với ông Trần Văn T là đúng với quy định của pháp luật.
Quyết định giải quyết khiếu nại số 28/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Chủ tịch UBND huyện K: Không chấp nhận nội dung đơn khiếu nại của ông T đối với Quyết định số 2383/QĐ-UBND là có căn cứ. Vì vậy, ngày 25/8/2016, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 2490/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông T: Không chấp nhận nội dung đơn khiếu nại của ông T; Thống nhất với nội dung giải quyết khiếu nại tại Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Chủ tịch UBND huyện K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
UBND xã E, huyện K trình bày:
Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 16, diện tích 7.162m2 tại xã E, huyện K có nguồn gốc do người dân tộc thiểu số tại chỗ khai hoang trồng lúa rẫy, sau đó bỏ hoang thành rừng tái sinh. Năm 1995, thanh niên thôn 6 (nay là thôn A ) khai hoang, san ủi mặt bằng làm sân bóng đá; Năm 2008, ông Trần Văn T xây dựng nhà ở và trồng cây lâu năm trên đất; Ngày 21/8/2009, UBND xã E lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm đất chuyên dùng, là đúng theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 08/2017/HC-ST ngày 20/4/2017, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:
“Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính. Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Điểm b khoản 1 Điều 3; khoản 3 Điều 4; khoản 4 Điều 10; khoản 2 Điều 25 Nghị định số 182/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Điểm b khoản 3 Điều 12; khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Điều 38, Điều 39 và Điều 40 Luật Khiếu nại. Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc: Hủy quyết định số: 2383/QĐ-UBND ngày 02/10/2009, của Chủ tịch UBND huyện K, về việc p dụng biện pháp khác phục hậu quả do vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn T và Quyết định số 2490/QĐ-UBND ngày 25/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Trần Văn T, đối với quyết định số: 2383/QĐ-UBND.”
Ngày 24/4/2017, ông
có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 08/2017/HC-ST ngày 20/4/2017 của TAND tỉnh Đắk Lắk
- Năm 1995 ông T ông T
-
Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân
ông T
ông T.
số 2383/QĐ-UBND ngày 02/10/2009 của Chủ tịch UBND huyện K và Quyết định số 2490/QĐ-UBND ngày 25/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk. [1] Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 16, diện tích 7.162m2 tại thôn A, xã E, huyện K
ông T [2]
Y Tuôp N [3]
Y Tuôp N và ông Trần Văn T lập ngày 30/4/1995, được ông Y Ngô N - Chủ tịch UBND xã C ký xác nhận ngày 20/5/1996 là không hợp lý, vì thửa đất này không thuộc địa phận hành chính xã C nên Chủ tịch UBND xã C
tại thời điểm này ôn
xã C là Phó công an xã C; đến năm 2004 ông Y Ngô N mới được bầu làm Chủ tịch UBND xã C. [4]
Trần Văn T cho thanh niên thôn 6 (nay là thôn A) mượn đất lập ngày 18/11/1995
ông Nguyễn Quang H đại diện thôn 6 ký xác nhận là không hợp lý.
-
Ủy ban nhân dân
là thôn trưởng thôn 6. [5]
24/04/2017,
Trần Văn T xu [6]
Y Tuôp N và ông Trần Văn T
Y Tuôp N và ông Trần Văn T [7]
heo hồ sơ đăng ký đất đai tại xã E
năm 1997, thửa đất số 03, tờ bản đồ số 16, diện tích 7.162m2 tại thôn A, xã E, huyện K do Ủy ban nhân dân xã E đăng ký quyền sử dụng đất, được UBND huyện K phê duyệt quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 là đất chuyên dùng. nay, ông T [8]
-
hợp đồng
hợp đồng
hợp đồng
hợp đồng.
ông T
lâu năm
. [9] 7.162m2 tại xã E, huyện K, được sử dụng làm sân bóng đá cho các thôn T và thôn A
, có nguồn gốc
khai
. Năm 1995, ông Trần Văn T
-
Ủy ban nhân dân [10]
Ngày 21/8/2009, UBND xã E đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn T về hành vi trồng cây phê trên đất đang sử dụng làm sân bóng đá. Do
Ủy ban nhân dân
-
thửa đất số 03, tờ bản đồ số 16
3 Điều 12
-CP
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. [11]
Quyết định số 2383/QĐ-UBND ngày 02/10/2009 của Chủ tịch UBND huyện K
-
ông T
. [12]
ông T k
ông T
.
[13]
Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;
iểm b khoản 1 Điều 3; khoản 3 Điều 4; khoản 4 Điều 10; khoản 2 Điều 25 Nghị định số 182/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
iểm b khoản 3 Điều 12; khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
kháng cáo
;
bản án hành chính sơ thẩm số 08/2017/HC-ST ngày 20/4/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
1. Bác đơn khởi kiện của ông Trần Văn T về
hủy quyết định số 2383/QĐ-UBND ngày 02/10/2009 của Chủ tịch UBND huyện K về dụng biện pháp kh c phục hậu quả do vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn T và Quyết định số 2490/QĐ-UBND ngày 25/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Trần Văn T.
2.
ông
Đắk Lắk.
3.
ông
Đắk Lắk.
4.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |