vanban.org

Bản án 15

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/02/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với bị cáo Trần Nhân C; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông; sửa b n án sơ thẩm.

Tu ên b bị cáo Trần Nhân C, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng kho n 1 Điều 173; điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù; thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng bắt giam thi h nh án; được trừ thời gian đã bị tạm giữ, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Nhân C, “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với bị cáo Trần Nhân C; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông; sửa b n án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ÂM Đ NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 15/2020/HS-PT
Ng : 12-02-2020

NHÂN DANH

N C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ÂM Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn ỉnh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Ông Nguyễn Duy Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng; là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh; Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 170/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 đ i với bị cáo Trần Nhân C, Lê Văn T do kháng cáo của bị cáo Trần Nhân Cường và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 28/2019/HS-ST; ngày 12-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo và bị kháng nghị:

1. Họ v tên: Trần Nhân C; sinh năm 1973 tại tỉnh L o Cai; nơi ĐKHKTT v cư trú: Thôn LĐ, xã PL, hu ện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 08/12; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Hiền T (Đã chết) và bà Lê Thị H (Đã chết); anh, em ruột: Có 08 người, lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1981, bị cáo l con thứ 6 trong gia đình; vợ: Ho ng Thị H, sinh năm: 1980 (đã l hôn); con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền án: Ng 29-4-2011 bị Tòa án nhân dân hu ện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 26-9-2014 bị Tòa án nhân dân hu ện Đam Rông xử phạt 48 tháng về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” v 09 tháng về tội “Đánh bạc”; ngày 24-8-2006 bị Tòa án nhân dân hu ện Đam Rông xử phạt 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Ngày 17-12-2018 bị Công an xã Phi Liêng xử phạt 1.500.000đ về h nh vi trộm cắp t i s n.

ị cáo bị bắt tạm giam từ ng 12-4-2019, hiện đang bị tạm giam tại Nh tạm giữ - Công an hu ện Đam Rông. Có mặt.

2. Họ v tên: ê Văn T; sinh năm: 1999 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn TB, xã PL, hu ện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 11/12; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1973 và bà Ngu ễn Thị H, sinh năm: 1973; anh, em ruột: Có 05 người, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2009, bị cáo l con thứ 2 trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; ị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30-8-2019 v được tr tự do nga tại phiên tòa ng 12-11-2019. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị hại không kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì mu n có tiền tiêu x i cá nhân v mua ma tú để sử dụng, nên vào kho ng 21 giờ ngày 20-3-2019, Trần Nhân C, cùng Lê Văn T sau khi sử dụng ma túy xong, C dùng xe Mô tô hiệu Sirius không có biển kiểm soát, mượn của người bạn tên N, chở T đi v o xã Đạ K’N ng, hu ện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng để trộm cắp t i s n, khi đến nh gỗ trong rẫ của ông K’Thiêng tại thôn Đạ Sơn, xã Đạ K’N ng, quan sát thấ nh cửa đóng không có ai trông coi, Cường nói với Tiến đứng ngo i đường trông coi xe v c nh giới, Cường dùng đèn pin điện thoại soi sáng, đi vòng ra cửa sau nhặt 01 khúc sắt cạ cửa đột nhập v o bên trong, sau đó C và T lấ 03 má khoan, 01 má m i của ông T gửi tại nh ông K’T bỏ v o bao t i, v lấ 01 d n má xịt thu c. C hai đem t i s n trộm cắp được ra xe Mô tô chở về nhà C cất giấu. Sau đó C bán 01 d n má xịt thu c và má m i cho ông Lê Văn H với giá 1.800.000đ. án 03 máy khoan cho ông Nhiếp Văn X với giá 1.400.000đ. To n bộ s tiền bán t i s n trộm cắp Cường và T chia nhau tiêu x i hết. Quá trình điều tra Cơ quan c nh sát điều tra - Công an hu ện Đam Rông đã thu giữ 01 má xịt thu c bao gồm đầu xịt, Mô tơ má hiệu Matsumoto và d n sắt xi có bán cao su; 03 máy khoan, trong đó có 01 má hiệu Kanu; 02 má khoan hiệu TPC m xanh; 01 chiếc má m i hiệu Hồng Phúc mày xanh.

Ngo i ra v o kho ng 08 giờ ng 08-01-2019. Cường cùng một đ i tượng tên Phương, hiện na đã bỏ tr n còn trộm cắp 02 bao c phê qu tươi của gia đình ông K’Sỉu với trọng lượng 107 kg, sau khi trộm cắp Cường chở đi bán cho đại lý ông Lê á Anh thì bị bắt giữ.

Theo b n kết luận định giá t i s n s 20/ KL-HĐĐG ng 08-4-2019 của Hội đồng định giá t i s n hu ện Đam Rông, kết luận: 01 chiếc má khoan có nhãn hiệu Kanu, m u đỏ có giá trị còn lại l 504.000 đồng; 02 má khoan hiệu TPC m u xanh có giá 495.000đ/ Má ; 01 chiếc má m i hiệu Hồng Phúc 1/2HP m u xanh có giá 600.000đ. d n má xịt thu c có giá trị còn lại l 2.695.000 đồng; Tổng giá trị t i s n định giá l 4.789.000đ.

Theo b n kết luận định giá t i s n s 19/ KL-HĐĐG ng 13-3-2019 của Hội đồng định giá t i s n hu ện Đam Rông, kết luận v 107 kg c phê qu tươi có giá trị l 856.000đ.

Tại b n cáo trạng s : 29/CT-VKS ngày 28-10-2019 của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã tru t bị cáo Trần Nhân C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g kho n 2 Điều 173 ộ luật hình sự; tru t bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo kho n 1 Điều 173 ộ luật hình sự.

Tại b n án s 28/2019/HS-ST; ngày 12-11-2019 của Tòa án nhân dân hu ện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng:

Tu ên b bị cáo Trần Nhân C, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g kho n 2 Điều 173; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 ộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Nhân C 42 ( n mươi hai) tháng tù; thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng 12-4-2019.

Áp dụng kho n 1 Điều 173; điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 65 ộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách l 24 tháng tính từ ng tu ên án.

B n án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 18-11-2019 bị cáo Trần Nhân C kháng cáo xin gi m nhẹ hình

phạt.

- Quyết định s 01/QĐ-VKS ngày 25-11-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” qu định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Trần Nhân C; không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Trần Nhân C; không cho bị cáo Lê Văn T hưởng án treo; sửa b n án, bỏ Điều 99 Bộ luật t tụng hình sự, áp dụng Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự; sửa b n án đúng theo mẫu s 27-HS.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Nhân C rút kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng rút một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông đ i với sửa b n án đúng theo mẫu s 27-HS; những phần còn lại giữ nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng Điều 348; điểm b, đ kho n 1 Điều 355; kho n 2 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo bị cáo Trần Nhân C; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 tháng tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Với mục đích mu n có tiền mua ma túy và tiêu xài cá nhân, bị cáo Trần Nhân C và bị cáo Lê Văn T đã lén lút v o nh ông K’ Thiêng lấy trộm đầu xịt, mô tơ má v d n sắt xi có bánh cao su, 03 máy khoan, 01 máy mài, ngoài ra bị cáo C còn lén lút trộm cắp 02 bao cà phê Robuta của ông K’ S. C hai đem tài s n trộm cắp được ra xe Mô tô chở về nhà C cất giấu. Sau đó Cường bán 01 dàn máy xịt thu c v má m i cho ông Lê Văn H với giá 1.800.000đ. án 03 máy khoan cho ông Nhiếp Văn X với giá 1.400.000đ. To n bộ s tiền bán tài s n trộm cắp Cường và Tiến chia nhau tiêu xài hết.

Xét kháng cáo của bị cáo Trần Nhân C và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông: Đơn kháng cáo của bị cáo và Quyết định kháng nghị làm trong hạn luật định v đúng qu định nên được xem xét.

Các bị cáo nhận thức rõ tài s n hợp pháp của người khác được pháp luật b o vệ, cấm mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật, nhưng bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ tài s n, lén lút đột nhập v o nh người khác để chiếm đoạt.

Tại phiên tòa bị cáo rút kháng cáo nên cần đình chỉ tu nhiên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng chỉ rút một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông đ i với b n án đúng theo mẫu s 27-HS; những phần còn lại giữ ngu ên nên cần xem xét kháng nghị. Trong vụ án n bị cáo Trần Nhân C 01 lần trộm cắp t i s n, ngày 17-12-2018 đã bị Công an xã Phi Liêng xử phạt 1.500.000đ đã được Tòa sơ thẩm xem xét nên không chấp nhận áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” qu định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015; đ i với việc áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Trần Nhân C không đúng vì khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 tháng tù cho hưởng án treo không đúng vì bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân t i cao nên ph i xử giam; sửa bỏ Điều 99 về án phí vì do đâ l qu định trong luật cũ.

Về án phí: Bị cáo Trần Nhân C; bị cáo Lê Văn T không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348; điểm b, đ kho n 1 Điều 355; kho n 2 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với bị cáo Trần Nhân C; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Đam Rông; sửa b n án sơ thẩm.

Tu ên b bị cáo Trần Nhân C, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g kho n 2 Điều 173; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 ộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Nhân C 42 ( n mươi hai) tháng tù; thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng 12-4-2019.

Áp dụng kho n 1 Điều 173; điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù; thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng bắt giam thi h nh án; được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ng 12-4-2019 đến ng 12-11-2019.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Trần Nhân C; bị cáo Lê Văn T không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ