vanban.org

Bản án 15/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H: 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/10/2019. Về án phí: Căn cứ Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS - ST
Ngày: 10/3/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Vang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hoạt và ông Lường Văn Thiết

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Kim Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hứa Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06, 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2020/TLST - HS, ngày 21 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST – HS, ngày 21 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo: NGUYỄN VĂN H - sinh ngày 24/02/1990 tại Bắc Giang; nơi ĐKHKTT: xóm K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1 và bà Đỗ Thị T; có vợ thứ nhất là: Lương Thị L (đã ly hôn), vợ thứ hai là: Hoàng Thị L (đã ly hôn) và 01 (một) con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Nguyễn Văn H sinh ra và lớn lên lại xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, sau khi học hết lớp 12 thì đi học Đại học rồi kinh doanh.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: Đàm Thị N – sinh năm 1981. Trú tại: tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa có lý do – có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi liên quan: Vũ Đình H – sinh năm 1980. Trú tại: tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa có lý do – có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người tham gia tố tụng khác:

- Những người làm chứng:

1. Hoàng Thị D – sinh năm 1973. Trú tại: tổ 7, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

2. Hoàng Thị L – sinh năm 1968. Trú tại: tổ 5, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

3. Hoàng Thị V – sinh năm 1960. Trú tại: tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

4. Hoàng Xuân V - sinh năm 1960. Trú tại: tổ 1B, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

5. Hoàng Thị V1 – sinh năm 1964. Trú tại: tổ 4, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

6. Hoàng Diệu L – sinh năm 1995. Trú tại: tổ 1, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

7. Vũ Đình V – sinh năm 1972. Trú tại: tổ 5, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

8. Vũ Thị Lan A – sinh năm 1969. Trú tại: tổ 4, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

9. Hoàng Văn D – sinh năm 1969. Trú tại: tổ 7, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

10. Vũ Đình H1 – sinh năm 1956. Trú tại: tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

11. Phùng Văn T – sinh năm 1997. Trú tại: tổ 5, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

12. Hoàng Thị T – sinh năm 1976. Trú tại: tổ 5, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

13. Lý Mạnh H – sinh năm 1990. Trú tại: tổ 1, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn.

(Tất cả những người làm chứng, Tòa không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 7/2018, Nguyễn Văn H sử dụng số điện thoại 0974.448.899 và thông tin cá nhân đăng ký tài khoản “HN” tại Công ty cổ phần phát triển công nghệ thương mại và du lịch địa chỉ tầng 11 tòa nhà P, 36 HC, ĐĐ, Hà Nội để đặt mua vé máy bay qua trang Web “Tripi.vn” của công ty trên. Nguyễn Văn H đã đặt vé máy bay cho một số người bay khứ hồi Hà Nội – Đà Nẵng thành công, thời gian bay tháng 8/2018.

Khoảng tháng 11/2018, Nguyễn Văn H sử dụng tài khoản Facebook “HNV” được lập từ gmail của H là: [email protected] tạo Fanpage (Trang) “Săn vé rẻ” để đăng các bài viết quảng cáo bán vé máy bay kết hợp nghỉ dưỡng (COMBO du lịch). Trên trang “Săn vé rẻ”, H để các thông tin: Tư vấn và hỗ trợ đặt vé máy bay miễn phí, Đại lý cấp 1 của Vietnam Airlines, Vietjet, số điện thoại liên hệ là 0947.816.512. Mục đích H lập trang để kinh doanh online chứ thực tế H không có đăng ký kinh doanh và không có văn phòng kinh doanh ngành nghề du lịch.

Khoảng tháng 02/2019, Nguyễn Văn H gặp khó khăn về tài chính do đầu tư kinh doanh thua lỗ, để có tiền trang trải cuộc sống, H đã nảy sinh ý định đăng bài bán vé máy bay giá rẻ để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày 27/02/2019, H đăng một bài viết trên trang “Săn vé rẻ” nội dung: “COMBO ĐÀ NẴNG CỰC HOT !!! COMBO ĐÀ NẴNG 4 NGÀY 3 ĐÊM THÁNG 3,4; 2.330.000 VNĐ/người. COMBO BAO GỒM: vé máy bay khứ hồi Hà Nội – Đà Nẵng (Thời gian bay bên dưới), 20kg ký gửi/người/chiều, 3 đêm nghỉ khách sạn 4 sao tuyệt đẹp của Đà Nẵng, mới toanh. Xe đưa đón từ sân bay về khách sạn và ngược lại. Trà, cafe, wifi miễn phí hàng ngày. LỊCH KHỞI HÀNH: Đi thứ 2 - về thứ 5. Lưu ý: Combo áp dụng cho 02 người/phòng. Tối đa 02 người lớn, 01 trẻ em. Đi đoàn book nhiều combo”.

Tối ngày 06/3/2019, chị Đàm Thị N, sinh năm 1981, trú tại tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn lên mạng xã hội Facebook để tìm mua Combo du lịch cho bố, mẹ chồng là ông Vũ Đình H1 và bà Hoàng Thị V, cùng trú tại: tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn đi du lịch tại Đà Nẵng. Qua tìm kiếm chị N thấy trang “Săn vé rẻ” của H, trên ảnh bìa của trang có thông tin Đại lý cấp 1 của VietNam Airline, Vietjet, trên trang có bài viết: COMBO ĐÀ NẴNG 4 NGÀY 3 ĐÊM THÁNG 3, 4 nêu trên, chị N sử dụng tài khoản Facebook “NĐ” nhắn tin qua trang “Săn vé rẻ” để đặt vấn đề mua COMBO ĐÀ NẴNG cho 02 người, đi ngày 18/3/2019, về ngày 21/3/2019. H với tư cách là quản trị viên duy nhất của trang “Săn vé rẻ” đã nhắn tin trao đổi trả lời chị N các thắc mắc về phòng vé và nội dung gói COMBO. Do không quen biết và chưa rõ địa chỉ của trang “Săn vé rẻ ”, chị N có hỏi H là: “Bên mình là công ty gì, có đảm bảo không ạ”, thì H trả lời : “Phòng vé HT, Chị yên tâm, Bên em xuất vé xong mới thu tiền” mục đích là để chị N tin tưởng là bên H có phòng vé thật và chỉ thu tiền của khách sau khi đã đặt vé thành công. Sau câu trả lời của H, chị N yên tâm đặt mua vé COMBO cho 02 người là Hoàng Thị V và Vũ Đình H1. Để cẩn thận hơn chị N yêu cầu H cung cấp địa chỉ phòng vé, H trả lời : “12 KDT, TX, Hà Nội” đồng thời H chủ động hỏi: “Chị thanh toán qua văn phòng bên em hay chuyển khoản ạ”, chị N thêm yên tâm nên đã chọn thanh toán COMBO bằng hình thức chuyển khoản cho H. Sau đó chị N đã gọi điện trực tiếp bằng số thuê bao của mình đang sử dụng là 0888203696 vào số thuê bao 0947816512 trên trang “Săn vé rẻ” để trao đổi trực tiếp thì H nghe máy và xác nhận lại các thông tin như đã trao đổi. Chị N yêu cầu H xuất vé trước khi chuyển khoản như trao đổi trước đó.

Lợi dụng việc trang Tripi.vn có hình thức đặt vé giữ chỗ (vé không có giá trị khi chưa thanh toán, trong thời hạn 24 giờ nếu không thanh toán thì sẽ bị hủy), H đã đăng nhập vào tài khoản của H trên trang Tripi.vn nhập thông tin của khách bay như chị N cung cấp rồi gửi cho chị N hình ảnh 02 vé điện tử có đầy đủ mã vé, thông tin chuyến bay, tên hành khách và nhắn kèm “em gửi chị vé nhé ” nên chị N càng tin tưởng. H cung cấp số tài khoản 0120105671003 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q, chi nhánh T, chủ tài khoản Nguyễn Văn H cho chị N để chị N chuyển tiền mua COMBO.

Sáng ngày 07/3/2019, H nhắn tin giục chị N chuyển tiền mua COMBO đã đặt, chị N đã dùng số tài khoản của chồng mình mang tên Vũ Đình H, sinh năm 1980, trú tại tổ 10A, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn là 8600205017949 mở tại Ngân hàng N chi nhánh tỉnh Bắc Kạn chuyển tiền qua ứng dụng smartbanking vào số tài khoản của Nguyễn Văn H số tiền 4.660.000đ (bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) để thanh toán COMBO cho 2 người là bà Hoàng Thị V và ông Vũ Đình H1.

Đến tối ngày 07/3/2019, chị N trao đổi với H mua thêm COMBO cho 05 người khác đi cùng là bà Hoàng Thị D và ông Hoàng Văn D, cùng trú tại: tổ 7, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn; bà Hoàng Thị L và ông Phùng Văn T, cùng trú tại: tổ 5, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn; bà Hoàng Thị V1, trú tại: tổ 4, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn. H tiếp tục đặt vé giữ chỗ trên trang Tripi.vn theo thông tin của 05 người nói trên, sau đó gửi cho chị N hình ảnh vé điện tử có đầy đủ mã vé, thông tin chuyến bay, tên 05 hành khách như chị N cung cấp rồi yêu cầu chị N chuyển tiền thanh toán. Chị N đã dùng số tài khoản của mình mang tên Đàm Thị N là 39510000120863 mở tại Ngân hàng T chi nhánh tỉnh Bắc Kạn chuyển tiền qua smartbanking vào số tài khoản của Nguyễn Văn H số tiền 11.650.000đ (Mười một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) để thanh toán COMBO cho 5 người.

Chiều ngày 08/3/2019, chị N nhắn tin hỏi H tên khách sạn, H trả lời là “KoKobay, ở khách sạn có bãi biển”, sau đó H trao đổi chị N rủ thêm người đi, chị N đã đặt mua thêm vé cho 01 người là ông Hoàng Xuân V, trú tại: tổ 1B, phường Đ, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn, H gửi cho chị N hình ảnh vé điện tử có thông tin hành khách chị N cung cấp và gộp tên Hoàng Thị V1 với Hoàng Xuân V vào một mã vé, chị N đã dùng số tài khoản của mình chuyển tiền qua smartbanking vào số tài khoản của Nguyễn Văn H số tiền 2.330.000đ (Hai triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).

Ngày 09/3/2019, H nhắn tin cho chị N nội dung: “tuần của đoàn mình đi còn 6 combo nữa, nhà mình nếu ai đi thêm thì báo bên em sớm nha”. Được H thông tin vẫn còn vé COMBO giá rẻ, chị N đã đặt mua thêm vé cho 03 người nữa gồm ông Vũ Đình V và bà Hoàng Thị T, cùng trú tại: tổ 5, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn; bà Vũ Thị Lan A, trú tại: tổ 4, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn. H gửi cho chị N hình ảnh vé điện tử có mã vé, thông tin hành khách chị N cung cấp rồi giục chị N chuyển tiền với lý do: “vé đặt combo cần cập nhật lên hệ thống, không bị chồng chéo khách sạn”, chị N đã dùng số tài khoản của mình chuyển khoản qua smartbanking vào số tài khoản của H số tiền 6.990.000đ (sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) vào chiều ngày 11/3/2019.

Chiều ngày 11/3/2019, chị N nhắn tin hỏi H “muốn 2 vé nữa có không em”, H trả lời: “chờ em hỏi lại phòng” rồi thông báo cho chị N là: “còn 3 vé nữa cơ ạ”. Ngày 14/3/2019, chị N trao đổi với H nhờ đổi thông tin tên 01 người đã đặt vé trước đó là bà Vũ Thị Lan A sang tên 01 người khác là bà Hoàng Diệu L và đặt mua thêm vé cho 01 người nữa là ông Lý Mạnh H, cùng trú tại: tổ 1, phường S, thành phố BK, tỉnh Bắc Kạn. H yêu cầu chị N thanh toán thêm 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) tiền đổi thông tin vé, chị N đã dùng số tài khoản của chồng mang tên Vũ Đình H là 8600205017949 chuyển tiền qua smartbanking vào số tài khoản của Nguyễn Văn H số tiền 3.130.000đ (Ba triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Sau đó, chị N yêu cầu H xuất vé có thông tin của hành khách sau cùng nhưng H không cung cấp hình ảnh vé như những lần trước. Đến ngày 18/3/2019, H chặn tin nhắn facebook và cắt liên lạc với chị N, chiếm đoạt toàn bộ số tiền chị N đã chuyển cho H. Một thời gian sau H thay đổi tên trang «Săn vé rẻ», xóa toàn bộ dữ liệu trang «Săn vé rẻ », xóa toàn bộ tin nhắn liên quan đến vụ án.

Tổng số tiền chị N đã chuyển khoản cho H sau 05 lần chuyển tiền mua COMBO là 28.760.000đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) để đặt vé cho 12 (mười hai) người.

Kết quả điều tra xác minh tại địa chỉ số 12, đường KDT, phường TXT, quận TX, thành phố Hà Nội không có phòng vé máy bay nào tên là phòng vé HT. Các mã vé đặt chỗ mà Nguyễn Văn H đã chụp ảnh gửi qua tin nhắn facebook cho chị Đàm Thị N không tồn tại trên hệ thống đặt giữ chỗ của Vietjet; Kết quả trả lời của Công ty cổ phần phát triển Công nghệ thương mại và du lịch « Tripi » xác định tài khoản « HN » chỉ có quyền lợi đặt vé máy bay giữ chỗ miễn phí tối đa 24 giờ. Giá vé máy bay khứ hồi Hà Nội – Đà Nẵng rẻ nhất của các hãng hàng không trong khoảng thời gian từ ngày 06/3/2019 đến ngày 21/3/2019 và giá vé máy bay khứ hồi Hà Nội – Đà Nẵng đi ngày 18/3/2019 về ngày 21/3/2019 cho một người đều có giá khoảng 1.722.900 VNĐ. Kết quả xác minh tại một số công ty có bán các combo du lịch (bao gồm giá vé máy bay và khách sạn) thì trước khi đưa ra combo cho khách hàng công ty đều tham khảo giá vé máy bay và khách sạn và khi có khách đặt Combo thì công ty sẽ liên hệ với khách sạn để đặt phòng và đặt vé máy bay ngay cho khách theo đúng nội dung đưa ra trong Combo. Tuy nhiên, sau những lần chị N chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Văn H thì H đã rút tiền ra rồi sử dụng hết vào mục đích chi tiêu cá nhân mà không sử dụng để thanh toán tiền vé máy bay, đồng thời H cũng không liên hệ với khách sạn nào để đặt phòng cho khách từ khi chị N chuyển tiền mua vé lần đầu tiên.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT - VKSTPBK, ngày 20 tháng 01 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174/BLHS.

* Điều luật có nội dung:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tại phiên toà: * Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 174; Điều 38; điểm g, khoản 1, Điều 52; các điểm b, s, v, khoản 1, khoản 2, Điều 51/BLHS: xử phạt bị cáo H từ 06 tháng đến 09 tháng tù;

- Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo H.

- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

* Bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như viện kiểm sát đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, với mục đích chiếm đoạt đã có từ trước, bằng thủ đoạn gian dối, thông qua trang mạng xã hội facebook “Săn vé rẻ” do Nguyễn Văn H tự lập ra, H đã lợi dụng việc mình có tài khoản mở tại trang Tripi.vn, được hưởng quyền lợi đặt vé giữ chỗ miễn phí tối đa 24 giờ (vé không có giá trị khi chưa thanh toán) để đưa ra thông tin gian dối là mình có phòng vé tên HT, địa chỉ số 12, đường KDT, phường TXT, quận TX, thành phố Hà Nội và phòng vé xuất vé cho khách xong mới thu tiền, lợi dụng lòng tin của người bị hại, từ ngày 06/3/2019 đến ngày 15/3/2019 Nguyễn Văn H đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Đàm Thị N, sau mỗi lần chị N chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng, H đều rút ra và chi tiêu cá nhân hết, không mua vé máy bay, không liên hệ đặt khách sạn và cũng không trả lại tiền cho chị N, cụ thể:

- Sáng ngày 07/3/2019 chị N chuyển cho H số tiền 4.660.000đ (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Tối ngày 07/3/2019 chị N chuyển cho H số tiền 11.650.000đ (Mười một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

- Chiều ngày 08/3/2019, chị N chuyển cho H số tiền 2.330.000đ (Hai triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).

- Chiều ngày 11/3/2019, chị N chuyển cho H số tiền 6.990.000đ (Sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

- Ngày 15/3/2019, chị N chuyển cho H số tiền 3.130.000đ (Ba triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Văn H chiếm đoạt của chị Đàm Thị N là 28.760.000đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 15/10/2019 Nguyễn Văn H đến cơ quan công an thành phố Bắc Kạn đầu thú.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi liên quan, những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, điều 174/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy:

Bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên ngày 04/01/2020 bị cáo H bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện G, thành phố Hà Nội ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là “phạm tội nhiều lần” – theo quy định tại điểm g, khoản 1, điều 52/BLHS. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội có thành tích xuất sắc trong học tập, quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình và thực tế gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 28.760.000đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) cho người bị hại Đàm Thị N nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường thiệt hại”, đầu thú, người bị hại và người có quyền lợi liên quan đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bà nội của bị cáo là bà Bùi Thị K được nhà nước tặng huân chương kháng chiến – theo quy định tại các điểm b, s, v, khoản 1, khoản 2, điều 51/BLHS.

* Trách nhiệm dân sự:

- Ngày 06/01/2020 gia đình bị cáo H đã bồi thường cho người bị hại Đàm Thị N số tiền 28.760.000đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Sau khi nhận tiền, quá trình điều tra chị N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Chị N vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt, chị N vẫn giữ nguyên quan điểm không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với người có quyền lợi liên quan Vũ Đình H: khẳng định trong số tiền chị Đàm Thị N là vợ của anh H đã bị bị cáo H chiếm đoạt thì có hai lần chị N đã dùng tài khoản của anh H số 8600205017949 mở tại Ngân hàng N chi nhánh tỉnh Bắc Kạn để chuyển tiền cho bị cáo H vào sáng ngày 07/3/2019 với số tiền là 4.660.000đ và 15/3/2019 với số tiền là 3.130.000đ. Số tiền chị N đã chuyển cho bị cáo H là tài sản chung của anh H và chị N, khi chuyển tiền cho bị cáo H thì chị N có báo cho anh H. Nay chị N đã nhận được đủ số tiền 28.760.000đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) từ gia đình bị cáo H thì anh H nhất trí, giữa anh H và chị N không có tranh chấp gì về khoản tiền này. Anh H không yêu cầu bị cáo H bồi thường gì thêm. Anh H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vẫn giữ nguyên quan điểm không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên hội đồng xét xử không xem xét.

* Đối với những người đã bỏ tiền ra nhờ chị N đặt mua vé máy bay không thành công thì chị N đã đặt mua vé máy bay khác để họ đi du lịch nên họ không có yêu cầu gì.

Tài liệu trong hồ sơ vụ án xác định bị cáo không có tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án, nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo H.

Bị cáo H phải chịu tiền án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; Điều 38; điểm g, khoản 1, Điều 52; các điểm b, s, v, khoản 1, khoản 2, Điều 51/BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Văn H: 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/10/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo H có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại Đàm Thị N, người có quyền lợi liên quan Vũ Đình H - vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết./.

Cỡ chữ