vanban.org

Bản án 15/HSST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Lê Tấn P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn P phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HSST.
Ngày: 26/01/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Cao Đức

2. Bà Lương Hoàng Bích Trâm

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá, Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 03/2018/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Tấn P; Sinh ngày: 22/9/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Hộ khẩu

thường trú 181/117 L, Phường Q, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ : Sống lang thang; Nghề nghiệp: Không

; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tấn C (Chết) và bà Nguyễn Thị N (Sinh năm: 1948); Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/11/2017 cho đến nay (Có mặt).

Người bị hại: Chị Tạ Thị Thanh B, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: 231/59 D, Phường

W, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án

được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, Lê Tấn P nảy sinh ý định đến khu vực chợ R, Phường Q,

Quận A tìm người có sơ h thì chiếm đoạt tài sản. Vào lúc 06 giờ 55 phút ngày 13/11/2017, P thấy chị Tạ Thị Thanh B đang ngừng xe gắn máy trước nhà số 20Bis N, Phường Q, Quận A lấy tiền mua hàng, P đi từ phía sau bất ngờ dùng tay giật 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng trên tay chị B rồi bỏ chạy. Bị cướp giật tài sản, chị B điều khiển xe gắn máy đuổi theo P đến trước số 43/18 D, Phường Q, Quận A thì đuổi kịp và tông xe vào người P, làm P té ngã. Lúc này, P đứng dậy chạy bộ tiếp thì chị B truy hô cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được P, thu giữ vật chứng là 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri SW16763832, giải giao về tr s Công an Phường 2, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, toàn bộ v việc được chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Ngày 14/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 quyết định xử lý vật

chứng trả lại 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri SW16763832 cho chị Tạ Thị Thanh B và chị B không yêu cầu bồi thường.

Ngày 14/11/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 kh i tố bị can và tạm

giam Lê Tấn P, về tội “Cướp giật tài sản”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Lê Tấn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Lê Tấn P phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án.

Vật chứng v án:

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri SW16763832.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 09/01/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận

8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Tấn P về tội “Cướp giật tài sản”, theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay được thay thế b i 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 giữ quyền công tố luận tội

và tranh luận: tại phiên tòa bị cáo Lê Tấn P khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, người bị hại, xác định bị cáo đã có hành vi dùng tay giật 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của chị Tạ Thị Thanh B rồi nhanh chóng tẩu thoát. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Tấn P về tội cướp giật tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay được thay thế b i 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo 18 đến 24 tháng tù. Về phần dân sự: Quá trình điều tra, tài sản đã được thu hồi trả người bị hại, người bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét phần bồi thường dân sự. Về xử lý vật chứng: là 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri SW16763832 đã trả lại người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh

t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra

viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Lê Tấn P đã có hành vi dùng tay giật 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của

chị Tạ Thị Thanh B tại trước nhà số 20Bis N, Phường Q, Quận A rồi nhanh chóng tảu thoát. Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo

lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả người bị hại, gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần cho các bị cáo hư ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 136 Bộ luật hình sự năm

1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp d ng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, sống lang thang, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri SW16763832 , ngày

14/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Tạ Thị Thanh B.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 136; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình

sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Lê Tấn P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài

sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2017.

- Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Tấn P phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại

vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ