- Tranh chấp gì? "Vi Việt P vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Việt P.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 Sửa đổi, bổ sung một số điều c…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/2026/QĐ-TA | Lạng Sơn, ngày 28 tháng 4 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Phương Thảo.
2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Vy Thị Thu Hà, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/2026/QĐ-TA ngày 20 tháng 4 năm 2026, đối với:
Họ và tên: V1,
Giới tính: Nam
Sinh ngày 17 tháng 8 năm 1993;
Căn cước công dân số 020093001829, cấp ngày 21/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội;
Dân tộc: Tày, Tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 12/12;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Số A, L, khối G, phường T, tỉnh Lạng Sơn;
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự theo Quyết định số 94/QĐ-XPHC ngày 23/3/2026, Trưởng Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000đồng, đã nộp ngày 16/4/2026; nhân thân: Vi Việt P đã từng bị Chủ tịch UBND phường T ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn ngày 16/8/2023 với thời hạn 3 tháng, đã chấp hành xong.
Con ông Vy Mạnh T (đã chết) và bà Vũ Thị B.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngô Sơn H, cán bộ Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn (theo Giấy ủy quyền số 618/GUQ-CAP ngày 28/4/2026).
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn: Ông Lộc Văn Trung - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, hành vi vi phạm của Vi Việt P được tóm tắt như sau:
Tại quyết định số 329/QĐ-UBND ngày 05/3/2026 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với Vi V, thời hạn 01 năm kể từ ngày 05/3/2026, do V1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 19/02/2026.
Ngày 26/3/2026, Công an phường T tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Vi Việt P, cho kết quả dương tính với chất ma túy Amphetamine (AMP); Trạm y tế phường T xác định tình trạng nghiện ma túy với V1 với kết quả có nghiện chất Amphetamine (AMP).
Tại bản tường trình và các lời khai, Vi Việt P trình bày: Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 24/3/2026, do có cảm giác thèm ma túy nên Vi V P đi mua ma túy "đá" tại gần cổng bến xe phía Nam, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn với người đàn ông tên K với giá 200.000đồng, sau đó sử dụng tại nhà hết trong ngày. Lần đầu tiên Vi Việt P sử dụng ma túy là khoảng năm 2023.
Ngày 31/3/2026, tại Quyết định số 431/QĐ-UBND, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày trên, Công an phường T thông báo cho Vi Việt P biết tình trạng nghiện và đi đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.
Ngày 07/4/2026 Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh L kết quả cho thấy V1 không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở trên.
Do đó, ngày 08/4/2026 Công an phường T đã lập biên bản vi phạm về hành vi không đăng ký cai nghiện tự nguyện, sau đó thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Việt P đồng thời ra Quyết định số 552/QĐ-CAP về việc quản lý người nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại văn bản số 553/ĐN-CNBB ngày 14/4/2026, Công an phường T đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Việt P với thời hạn từ 14 đến 16 tháng.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị Công an phường T giữ nguyên đề nghị trên, không đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ với Vi Việt P.
V1 trình bày xin được áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn thấp nhất do hoàn cảnh gia đình hiện nay anh là lao động chính, mẹ đẻ đang điều trị ung thư. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và việc chấp hành của người tham gia phiên họp đều đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 3, 8, 9, 10, 11, 12, 17, 18, 20, 21 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về nội dung xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính, căn cứ điều 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18, 21 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đã sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10; khoản 2 Điều 95, Điều 96, 103, 104, 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Việt P trong thời hạn 16-20 tháng.
Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không có.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Việt P đã có đầy đủ các tài liệu quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Như vậy, tính từ ngày 24/3/2026 là ngày Vi Việt P thực hiện hành vi vi phạm lần cuối, thì thời hiệu vẫn còn.
Về đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Việt P:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ, V P là người đủ 18 tuổi trở lên, là người nghiện chất ma túy Amphetamine mặc dù đã được xác định tình trạng nghiện ma túy và được thông báo cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng hết thời hạn 05 ngày mà Vi Việt P không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, do đó đã đủ căn cứ xác định Vi Việt P thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2025.
Hành vi vi phạm của Vi Việt P gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, V P biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đang còn có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý vi phạm. Do đó, Vi Việt P phải chịu tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính; tuy nhiên quá trình lập hồ sơ Vi Việt P đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân: Vi Việt P là người có nhân thân xấu do đang có 01 tiền sự và đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nhưng đã được xóa.
Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm cùng các tình tiết tăng nặng và nhân thân của V1, nhận thấy cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Việt P như đề nghị của Trưởng Công an phường T và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, để Vi Việt P được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc để rèn luyện trở thành người công dân tốt.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 điều 10, các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 106, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020, 2025; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021;
Căn cứ các Điều 3, 23, 24, 25, 31, 32 và 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 tại Pháp lệnh số: 08/2025/UBTVQH15.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Việt P.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại Quyết định này của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã sửa đổi bổ sung.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND KV 1 - Lạng Sơn; - Công an P.Tam Thanh; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Chu Thị Phương Thảo |