vanban.org

Bản án 15/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:

* Căn cứ: khoản 2 Điều 155, Điều 282 của Bộ luật Hình sự. Đình chỉ vụ án đối với Ngô Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Tuấn phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào v…"
  • Tòa quyết gì? Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/HS-ST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Trung và bà Nguyễn Thị Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Dương Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Ngô Văn T, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1995 tại phường H, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi cư trú: khu N, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Th và bà Dương Thị T2; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 23/9/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng; ngày 26/7/2021, bị Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm phạm đến sức khỏe của người khác”; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 15/10/2025, bị tạm giam từ ngày 24/10/2025; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Bị hại: Chị Trần Thị Q, sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ 1, khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Vũ Thị Bích N, sinh năm 1996; nơi cư trú: đội 2, thôn Bắc, xã Lai Khê, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2/ Anh Vũ Thanh T3, sinh năm 1991; nơi thường trú: khu T, phường M, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3/ Ông Ngô Văn Th, sinh năm 1963; nơi cư trú: khu N, phường H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Tô Mạnh H, anh Ngô Quang D, chị Phạm Thị Thu H, anh Nguyễn Văn X, anh Bùi Văn T; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/9/2020, Ngô Văn T bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, đến ngày 25/12/2022 chấp hành xong về địa phương. Ngày 25/12/2022, Ủy ban nhân dân phường Hoàng Quế, tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số 419/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Ngô Văn T, thời hạn từ ngày 25/12/2022 đến ngày 25/12/2024. Ngày 30/7/2025, Ủy ban nhân dân phường Hoàng Quế ban hành Quyết định số 824/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Ngô Văn T, thời hạn từ ngày 30/7/2025 đến ngày 30/7/2026.

Tối ngày 08/10/2025, Ngô Văn T nhờ chị Trần Thị Q (sinh năm 1988, trú tại khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh) liên hệ giúp T cầm cố 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 14AZ-068.95 (đăng ký mang tên ông Ngô Văn Th – bố đẻ của T) cho chị Vũ Thị Bích Ng (trú tại khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh) để vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Đến ngày 10/10/2025, T nhắn tin cho chị Q nói không có khả năng chuộc xe nên muốn bán xe trừ nợ, chị Q đã bảo chị N bán chiếc xe mô tô trên cho anh Vũ Thanh T3 (trú tại khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh) với giá 12.500.000 đồng. Cho rằng chị Q bán xe mô tô của T thấp hơn so với giá thị trường nên giữa T và chị Q phát sinh mâu thuẫn. Khoảng 21 giờ ngày 12/10/2025, T cầm theo 01 (một) thanh kiếm, dài khoảng 60cm, có lưỡi sắc, đầu vát nhọn, bên ngoài có vỏ kiếm bằng gỗ sơn màu đen, sau đó thuê xe taxi đi đến khu vực cổng Trường trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh thuộc khu Vĩnh Lập, phường Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh, để đánh chị Q. Trên đường đi, T gọi điện thoại cho bạn là anh Ngô Quang D (sinh năm 1988, trú tại khu T, phường H, tỉnh Quảng Ninh) rủ đi cùng, nhưng nói với anh D là đi uống rượu, anh D đồng ý. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T và anh D đi xe taxi đến khu vực cách cổng Trường trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh khoảng 100m, thì T một mình cầm kiếm xuống xe đi đến cổng trường gặp chị Q, còn anh D vẫn ngồi trên xe cùng lái xe taxi, đuôi xe quay về hướng cổng trường. T cầm kiếm giấu ở sau lưng đi đến gần chị Q, rồi dùng hai tay cầm kiếm (vẫn còn trong vỏ kiếm) vụt nhiều nhát vào người chị Q, chị Q dùng tay túm và giằng được vỏ kiếm. Lúc này, T cầm kiếm (đã tuột khỏi vỏ) chém nhiều nhát về phía chị Q theo hướng từ trên xuống dưới, chị Q giơ tay đỡ và dùng vỏ kiếm để chống đỡ. Trong lúc chống đỡ, chị Q bị ngã xuống đường, thì T dùng bản kiếm đập 01 nhát vào đùi trái của chị Q rồi quay lại xe taxi bảo chở T đến sân Nhà văn hóa khu Nội Hoàng Đông, phường Hoàng Quế, tỉnh Quảng Ninh và giấu thanh kiếm vào gốc cây trong sân Nhà văn hóa. Sau đó, T xuống xe và đi lang thang (toàn bộ diễn biến hành vi của Ngô Văn T dùng kiếm đánh gây thương tích cho chị Trần Thị Q được ghi lại bởi Camera an ninh tại cổng Trường trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh).

Đến khoảng 03 giờ ngày 14/10/2025, T đi taxi đến nhà nghỉ Đông Dương thuộc khu Trại Hà, phường Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh, thuê phòng số 304 để nghỉ. Đến buổi trưa cùng ngày, T lấy túi ma túy "đá" đã mua trước đó cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang theo, một mình sử dụng hết. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Tổ công tác của Công an phường Mạo Khê kiểm tra hành chính tại phòng số 304, nhà nghỉ Đông Dương, đã phát hiện T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ tại tủ quần áo trong phòng 304: 01 (một) chai nhựa, gắn nắp bằng nhựa màu xanh, trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, một lỗ gắn 01 cóng thủy tinh có bầu tròn, trong cóng có bám dính chất tinh thể màu xám. Ngoài ra còn tạm giữ của T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, gắn sim số 0934.352.186 và 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ.

Tại các bản Kết luận giám định số 1593 và 1594 ngày 21/10/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:

- Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Ngô Văn T.

- Chất màu nâu xám dạng vết trong cóng thủy tinh gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng: dạng vết không xác định được.

Kết quả khám nghiệm hiện trường tại khu vực cổng Trường trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh thể hiện: phát hiện dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt (nghi là máu) nằm rải rác trên mặt đường trên diện kích thước (6x3,8)m, đám mảnh gỗ nhựa nằm trên mặt đường, trên mảnh gỗ có bám dính chất màu nâu đỏ nghi là máu. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm thanh kiếm T cất giấu vào gốc cây trong sân Nhà văn hóa khu Nội Hoàng Đông, phường Hoàng Quế, tỉnh Quảng Ninh, nhưng không thu giữ được.

Tại bản Kết luận giám định số 1826 ngày 08/12/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: dấu vết màu nâu đỏ nghi máu gửi giám định là máu của chị Trần Thị Q.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 576 ngày 16/10/2025, của Trung tâm pháp y Sở y tế Quảng Ninh kết luận thương tích của chị Trần Thị Q như sau:

- Vết thương phần mềm vùng trán phải dài 2,3cm, tạm xếp tỷ lệ: 03%;

- Vết thương đốt 1 ngón III mặt lòng bàn tay phải tổn thương như sau: vết thương và vết mổ ngón III tay phải dài 08cm, tạm xếp tỷ lệ: 02%; đứt gân gấp ngón III tay phải đã được khâu nối: chưa xếp tỷ lệ; vết thương liên đốt 1-2 mặt mu ngón IV tay phải, tạm xếp tỷ lệ: 01%; chấn thương bầm tím 1/3 trên mặt ngoài đùi trái, tạm xếp tỷ lệ: 0,5%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị Q tại thời điểm giám định là 06% (sáu phần trăm). Chấn thương 1/3 trên mặt ngoài đùi trái do vật tày, các tổn thương còn lại do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 676 ngày 12/11/2025, của Trung tâm pháp y Sở y tế Quảng Ninh kết luận:

- Sẹo vết thương phần mềm nằm chéo vùng trán phải kích thước nhỏ: 03%;

- Vết thương đốt 1 ngón III mặt lòng tay phải tổn thương như sau: sẹo vết thương đốt 1 ngón III tay phải và vết mổ xuống phía dưới kích thước trung bình: 02%; đứt gân gấp ngón III tay phải đã được khâu nối, hiện tại cứng khớp liên đốt gần kèm hạn chế vận động khớp bàn ngón, liên đốt xa, liên đốt gần ngón III tay phải: 01%; sẹo vết thương liên đốt 1-2 mặt mu ngón IV tay phải kích thước nhỏ: 01%; chấn thương bầm tím 1/3 trên mặt ngoài đùi trái hiện đã khỏi, không để lại dấu vết bên ngoài, không để lại di chứng: 0%. Hiện tại hạn chế vận động nhiều các khớp liên đốt xa, liên đốt gần, khớp bàn đốt ngón III bàn tay phải sau phẫu thuật.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Thị Q tại thời điểm giám định là 07% (bảy phần trăm). Chấn thương 1/3 trên mặt ngoài đùi trái do vật tày, các tổn thương còn lại do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể tăng lên do đứt gân gấp ngón III tay phải gây cứng khớp liên đốt gần kèm hạn chế vận động khớp bàn ngón, liên đốt xa, liên đốt gần ngón III tay phải.

Ngày 23/10/2025, chị Trần Thị Q có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý đối với Ngô Văn T.

Ngày 29/10/2025, anh Vũ Thanh T3 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 14AZ-068.95 kèm 01 (một) giá đỡ để hàng kích thước khoảng (60x70)cm và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Ngô Văn Th.

Quá trình điều tra, Ngô Văn T khai nhận nguồn gốc ma túy để sử dụng tại phòng nghỉ số 304 nhà nghỉ Đông Dương là vào trưa ngày 12/10/2025, T đi sang khu vực huyện Thủy Nguyên (cũ), thành phố Hải Phòng, gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy với giá 500.000 đồng. Sau đó, T mang theo ma túy trong người sử dụng dần.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Tại phiên tòa, chị Trần Thị Q trình bày: quá trình điều tra, chị yêu cầu bị cáo Ngô Văn T phải bồi thường cho chị số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), bao gồm: thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại về tài sản mà chị bị xâm phạm. Tuy nhiên đến nay chị nhận thấy gia đình bị cáo Ngô Văn T cũng có hoàn cảnh khó khăn, giữa chị với bị cáo T có tình cảm chị em chơi cùng nhau nhiều năm, hơn nữa thương tích của chị cũng đã hồi phục bình thường trở lại và chị cũng mong muốn cho bị cáo T có cơ hội làm lại cuộc đời, nên nay chị chỉ yêu cầu bị cáo Ngô Văn T bồi thường cho chị số tiền là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), bao gồm thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại về tài sản mà chị bị xâm phạm. Chị Q không yêu cầu bị cáo Ngô Văn T phải bồi thường gì thêm.

Nay, ông Ngô Văn Thuý là bố đẻ của bị cáo Ngô Văn T đã đứng ra bồi thường cho chị số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Chị đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm và chị Trần Thị Q đề nghị Hội đồng xét xử cho chị được rút yêu cầu khởi tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” đã gây ra đối với chị.

* Tại Đơn đề nghị đề ngày 28/01/2026, anh Vũ Thanh T3 trình bày: Anh T3 là chủ cơ sở kinh doanh xe máy Thanh T3, anh đã mua chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 14AZ – 06895, màu đen, số khung RLHJA393XRY635662; số máy JA70E0378144 (đăng ký mang tên ông Ngô Văn Th là bố đẻ của bị cáo Ngô Văn T).

Sau đó anh được biết chiếc xe là tang vật của vụ án “Cố ý gây thương tích” giữa bị cáo Ngô Văn T và bị hại Trần Thị Q, nên anh đã tự nguyện giao nộp chiếc xe môtô trên cho Cơ quan điều tra để phục vụ quá trình điều tra. Nay, ông Ngô Văn Th là bố đẻ của bị cáo Ngô Văn T và anh đã thống nhất thoả thuận với nhau: ông Ngô Văn Th trả cho anh số tiền là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng), nên anh không yêu cầu bị cáo Ngô Văn T hay bất kỳ ai phải trả cho anh số tiền nào khác liên quan tới chiếc xe trên. Anh T3 đã nhận đủ số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) từ ông Ngô Văn Th; anh T3 đề nghị Hội đồng xét xử xử lý chiếc xe mô tô trên theo quy định của pháp luật, anh T3 không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.

Cáo trạng số 30/CT-VKS-KV5 ngày 29/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Quảng Ninh thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 155, Điều 282 của Bộ luật Hình sự.

Đình chỉ vụ án đối với Ngô Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

+ Đề nghị áp đụng điểm c khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025); xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 15 tháng 10 năm 2025).

- Về vật chứng: đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 1954/KL-KTHS ngày 21/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1826/KL-KTHS ngày 08/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) chiếc chai nhựa dán mác “Trà mật ong BONCHA”, gắn nắp nhựa màu xanh trên nắp chai nhựa có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa Gas màu đỏ , đã cũ đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, vỏ màu vàng, bên trong gắn sim số 0934.352.186.

+ Trả lại cho anh ông Ngô Văn Th: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 14AZ – 068.95, bên trái có lắp gương chiếu hậu; 01 (một) giá đỡ để hàng màu đỏ có kích thước khoảng (60x70)cm; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy BKS 14AZ – 068.95, tên chủ xe: Ngô Văn Th, địa chỉ: Nội Hoàng Đông, Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh (bản chính).

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đánh giá về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Quảng Ninh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá về tội danh của bị cáo:

Đối với tội “Cố ý gây thương tích”.

Xét đề nghị rút yêu cầu khởi tố của bị hại Trần Thị Q: ngày 28/01/2026, chị Q đã làm đơn gửi đến Tòa án xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Ngô Văn T. Tại phiên tòa, chị Q tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử cho chị được rút yêu cầu khởi tố bị cáo Ngô Văn T về hành vi cố ý gây thương tích đối với chị. Sau khi được Hội đồng xét xử giải thích hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố là bị hại không có quyền yêu cầu lại và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Chị Q vẫn giữ nguyên quan điểm rút yêu cầu khởi tố và khẳng định việc rút yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, cưỡng bức. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị hại nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 155; khoản 8 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định đình chỉ đối với tội “Cố ý gây thương tích” của bị cáo Ngô Văn T.

Đối với tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo Ngô Văn T đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và đang trong thời hạn bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine nên hành vi của bị cáo Ngô Văn T đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

Bị cáo Ngô Văn T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng ý thức chấp hành pháp luật kém; bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm phạm đến sức khỏe của người khác” cũng như bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân, mà tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; điều đó thể hiện bị cáo bất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật. Bị cáo nhận thức hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Đánh giá về hình phạt:

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Ngô Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm phạm đến sức khỏe của người khác”. Tuy nhiên cũng xét, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

Đánh giá về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:

+ Đối với 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 1954/KL-KTHS ngày 21/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1826/KL-KTHS ngày 08/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) chiếc chai nhựa dán mác “Trà mật ong BONCHA”, gắn nắp nhựa màu xanh trên nắp chai nhựa có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa Gas màu đỏ, đã cũ đã qua sử dụng. Xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, vỏ màu vàng, bên trong gắn sim số 0934.352.186. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Ngô Văn T.

+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 14AZ – 068.95, bên trái có lắp gương chiếu hậu; 01 (một) giá đỡ để hàng màu đỏ có kích thước khoảng (60x70)cm; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy BKS 14AZ – 068.95, tên chủ xe: Ngô Văn Th, địa chỉ: Nội Hoàng Đông, Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh (bản chính). Ông Ngô Văn Th đã bồi thường cho anh Vũ Thanh T3 số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng); anh T3 không có yêu cầu hay đề nghị gì nên Hội đồng xét xử trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Ngô Văn Th.

+ Đối với 02 (hai) đĩa DVD kèm theo Kết luận giám định số 1759/KL-KTHS ngày 22/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) sổ phụ chi tiết báo nợ/báo có ngày 03/12/2025 của số tài khoản 6590166666789, chủ tài khoản Trần Thị Q; 01 (một) hóa đơn bán hàng số 00229263 ngày 21/10/2025 của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí; 01 (một) CCCD số 022091005914 mang tên Vũ Thanh T3 (bản phô tô); 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 5702100727 mang tên hộ kinh doanh Vũ Thanh T3 (bản phô tô); 01 (một) CCCD số 022063001008 mang tên Ngô Văn Th (bản phô tô). Xét thấy là tài liệu chứa dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và các tài liệu có liên quan đến vụ án nên cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Đánh giá về các vấn đề khác của vụ án:

+ Đối với hành vi của Ngô Văn T sử dụng thanh kiếm để đánh và chém gây thương tích cho chị Q. Quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu và trao đổi với Viện khoa học hình sự Bộ Công an về việc trưng cầu giám định thanh kiếm được ghi lại bởi Camera an ninh tại cổng Trường trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh. Tại Công văn số 4009 ngày 12/12/2025, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an trả lời: không xác định được vật xuất hiện trong video có phải là kiếm, dao… hay không; không xác định được vật xuất hiện trong video có được quy định tại danh mục nào trong Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024, của Bộ trưởng Bộ Công an hay không. Do đó, không đủ cơ sở xử lý đối với Ngô Văn T về tội "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng".

+ Đối với anh Ngô Quang D và lái xe taxi là anh Nguyễn Văn Xuyên là những người đi cùng Ngô Văn T đến cổng Trường trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh, nhưng anh D và anh Xuyên không biết và không tham gia cùng T gây thương tích cho chị Q nên không đề cập xử lý.

+ Đối với chị Phạm Thị Thu Hoài (quản lý nhà nghỉ Đông Dương) không biết việc T thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý.

+ Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đánh giá về án phí: bị cáo Ngô Văn T là người bị kết án và bị hại Trần Thị Q rút yêu cầu khởi tố nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đánh giá về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:

* Căn cứ: khoản 2 Điều 155, Điều 282 của Bộ luật Hình sự.

Đình chỉ vụ án đối với Ngô Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Tuyên bố: bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 15 tháng 10 năm 2025).

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 1954/KL-KTHS ngày 21/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1826/KL-KTHS ngày 08/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) chiếc chai nhựa dán mác “Trà mật ong BONCHA”, gắn nắp nhựa màu xanh trên nắp chai nhựa có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa Gas màu đỏ , đã cũ đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, vỏ màu vàng, bên trong gắn sim số 0934.352.186.

+ Trả lại cho ông Ngô Văn Th: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 14AZ – 068.95, bên trái có lắp gương chiếu hậu; 01 (một) giá đỡ để hàng màu đỏ có kích thước khoảng (60x70)cm; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy BKS 14Z – 068.95, tên chủ xe: Ngô Văn Th, địa chỉ: Nội Hoàng Đông, Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh (bản chính).

+ Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án: 02 (hai) đĩa DVD kèm theo Kết luận giám định số 1759/KL-KTHS ngày 22/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) sổ phụ chi tiết báo nợ/báo có ngày 03/12/2025 của số tài khoản 6590166666789, chủ tài khoản Trần Thị Q; 01 (một) hóa đơn bán hàng số 00229263 ngày 21/10/2025 của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí; 01 (một) CCCD số 022091005914 mang tên Vũ Thanh T3 (bản phô tô); 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 5702100727 mang tên hộ kinh doanh Vũ Thanh T3 (bản phô tô); 01 (một) CCCD số 022063001008 mang tên Ngô Văn Th (bản phô tô).

(tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 26 ngày 30/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Ngô Văn T, bị hại Trần Thị Q, mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ