vanban.org

Bản án 15/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn N3: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Huỳnh Nvới ông Diếp Trọng N1.

Quan hệ hôn N3 giữa bà Huỳnh Thị Huỳnh Nvới ông Diếp Trọng N1 chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nđược trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Diếp Trọng N3, sinh ngày 02/3/2018 (Phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Huỳnh N với ông Diếp Trọng N1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn N3: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Huỳnh Nvới ông Diếp Trọng N1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN N3 DÂN
KHU VỰC 8 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2026
V/v “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

N3 DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N1 VIỆT NAM

TÒA ÁN N3 DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm N3 dân: 1. Ông Nguyễn Tường Bích.

2. Bà Phạm Thị Thu Trang.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát N3 dân khu vực 8 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án N3 dân khu vực 8 -Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn N3 và gia đình thụ lý số: 268/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2026/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Huỳnh N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số 584/TT, ấp TT, xã TX, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Ncó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 08/01/2026.

- Bị đơn: Ông Diếp Trọng N1, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp PL, xã TX, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Huỳnh Thị Huỳnh Ntrình bày:

Bà Huỳnh Thị Huỳnh Ntự nguyện chung sống với ông Diếp Trọng N1 vào năm 2017, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban N3 dân xã Phú Ngãi, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (Nay là xã TX, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống có hạnh phúc. Đến tháng 3/2018, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên N3 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình hai bên không hòa hợp, vợ chồng thường hay cự cải nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng. Bà Ncố gắng hàn gắn, thuyết phục ông N1 xây dựng lại cuộc sống gia đình Nng không có kết quả, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, bà Nvới ông N1 đã sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Hiện tại, bà Nnhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông Nghĩ nữa nên yêu cầu ly hôn với ông N1.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên là Diếp Trọng N3, sinh ngày 02/3/2018. Sau khi ly hôn, bà Nyêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu N3, đồng thời không yêu cầu ông Diếp Trọng N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Diếp Trọng N1 trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ Nng ông N1 đều vắng mặt không có lý do, mặc dù ông N1 vẫn còn đang sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai, ý kiến hay yêu cầu của bị đơn Diếp Trọng N1.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát N3 dân khu vực 8-Vĩnh Long tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn Huỳnh Thị Huỳnh Nthực hiện quyền và N1 vụ đúng theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn Diếp Trọng N1 không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn N3 và gia đình năm 2014.

Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Huỳnh Nđối với ông Diếp Trọng N1.

Về nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nđược trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Diếp Trọng N3, sinh ngày 02/3/2018 (Phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi).

Ghi nhận việc bà Huỳnh Thị Huỳnh Ntự nguyện không yêu cầu ông Diếp Trọng N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nkhai không có, ông Diếp Trọng N1 không có ý kiến hay yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Huỳnh Thị Huỳnh Ncó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Diếp Trọng N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử Nng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn N3.

Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nvới ông Diếp Trọng N1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, hai bên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn N3 hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống có hạnh phúc. Đến tháng 3/2018, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên N3 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình hai bên không hòa hợp, vợ chồng thường hay cự cải nhau, không có tiếng nói chung. Hiện tại, ai cũng có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau và đã ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập bà Nvới ông N1 để hoà giải, nhằm tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng Nng bà Ncó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông N1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Điều đó cho thấy hai bên đã không còn quan tâm và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Từ đó, đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ, chồng giữa bà Nvới ông N1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn N3 không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Nlà có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn N3 và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung:

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nlà người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Diếp Trọng N3, đồng thời con chung phát triển bình thường, do đó cần tiếp tục giao con chung cho bà Ntrực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung (Phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà Huỳnh Thị Huỳnh Ntự nguyện không yêu cầu ông Diếp Trọng N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nkhai không có, ông Diếp Trọng N1 không có ý kiến hay yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát N3 dân khu vực 8-Vĩnh Long về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng Nnhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn N3 sơ thẩm:

Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nphải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật hôn N3 và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn N3: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Huỳnh Nvới ông Diếp Trọng N1.

Quan hệ hôn N3 giữa bà Huỳnh Thị Huỳnh Nvới ông Diếp Trọng N1 chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nđược trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Diếp Trọng N3, sinh ngày 02/3/2018 (Phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà Huỳnh Thị Huỳnh Ntự nguyện không yêu cầu ông Diếp Trọng N1 cấp dưỡng nuôi con.

Ông Diếp Trọng N1 không trực tiếp nuôi con có quyền, N1 vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Bà Huỳnh Thị Huỳnh Ntrực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Diếp Trọng N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá N3, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn N3 và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn N3 sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Huỳnh Nphải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nđã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005729 ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Nvậy, bà Huỳnh Thị Huỳnh Nđã nộp đủ án phí.

Các đương sự bà Huỳnh Thị Huỳnh N, ông Diếp Trọng N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ