- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H Y Niê yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông Y B Niê"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H’ Yel
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HNGĐ – ST Ngày: 11/3/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Lê Khắc Dũng
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Kiểm sát viên.
Ngày 11/3/2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 130/2025/TLST - HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26/01/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐngày 12/02/2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà H’ Yel sinh năm 1992. Nơi cư trú: Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.. Có đơn xin xét xử vắng mặt
* Bị đơn: Ông Y Bon B, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Buôn G, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà H’ Yel trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ Yel và ông Y Bon B tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, (nay là xã E) tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/6/2012.
Thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc. Trong thời gian gian chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vã. Đến năm 2017 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và cả hai đã không sống chung với nhau cho đến nay. Nhận thấy bà H’ Yel và ông Y Bon B đã không sống chung với nhau từ lâu, không còn tình cảm vợ chồng nên bà H’ Yel yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H’ Yel được ly hôn với ông Y Bon B.
Về con chung: Bà H’ Yel và ông Y Bon B có hai con chung là H Nhoăt sinh ngày01/5/2012và H Thục Byă, sinh ngày 03/9/2014. Từ khi ly thân đến nay cả hai con chung đều sống với bà H’ Yel vì vậy bà H’ Yel có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), bà H’ Yel không yêu cầu ông Y Bon B cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Bà H’ Yel không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Y Bon B để tham gia tố tụng, nhưng ông Y Bon B vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Căn cứ vào Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vàokhoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và điều 84 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án:
-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H’ Yel
-Về con chung: Giao cháu H Nhoăt sinh ngày 01/05/2012 và cháu H’ Thục Byă, sinh ngày 03/09/2014 cho bà H’ Yel trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi 02 (hai) con chung đủ 18 tuổi. -Về về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà H’ Yel có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án khu vực 7 – Đắk Lắk giải quyết việc hôn nhân, con chung đối với ông Y Bon B, đơn khởi kiện của bà được Tòa án khu vực 7 – Đăk Lăk xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của nay là Tòa án khu vực 7 – Đắk Lắk.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ Yel và ông Y Bon B tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E (nay là xã E) tỉnh Đắk Lắk, vào ngày 04/6/2012, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mẫu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã nhau nên đã ly thân từ đó cho đến nay, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy bà H’ Yel có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Y Bon B.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định ông Y Bon B có đăng ký thường trú tại địa phương nhưng thường xuyên đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nên chính quyền địa phương không biết mẫu thuẫn của hai vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’ Yel cho bà H’ Yel được ly hôn với Bon B.
Về con chung: Bà H’ Yel và ông Y Bon B có 02 con chung là H Nhoăt sinh ngày 01/5/2012 và H Thục Byă, sinh ngày 03/9/2014.
Bà H’ Yel có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng H Nhoăt sinh ngày 01/5/2012 và H Thục Byă, sinh ngày 03/9/2014. Hơn nữa, tại bản tự khai của H Nhoăt H Thục Byă đều có nguyện vọng được ở với mẹ là H’ Yel Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung H Nhoăt sinh ngày 01/5/2012 và H Thục Byă, sinh ngày 03/9/2014 cho bà H’ Yel trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
án phí: Bà H’ Yel phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H’ Yel
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ Yel được ly hôn với Bon B.
[2]. Về con chung: Giao con chung H Nhoăt sinh ngày 01/5/2012 và H Thục Byă, sinh ngày 03/9/2014 cho bà H’ Yel trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
Ông Y Bon B được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông Y Bon B không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết
[4]. Về án phí: Bà H’ Yel phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001448, ngày 03 tháng 10 năm 2025, của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
| Nơi nhận - TAND tỉnh Đắk Lắk - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 7 - ĐăkLăk; - Phòng THADS khu vực 7; - UBND xã Ea Kar; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Nhã Phương |